What are tags? You can give your posts a "tag", which is like a keyword. Tags help you find content which has something in common. You can assign as many tags as you wish to each post.
Đây là một trong những cuốn sách hiếm hoi được nhà xuất bản Thông tin Lý luận cho ra đời vào năm 1985. Vào giai đoạn này Việt Nam - TQ - CPC chưa thực sự là "răng - môi - lưỡi" cho nên cuốn sách phản ánh khá đầy đủ và khách quan qua cái nhìn của Unfred Berssett, một nhà nghiên cứu chính trị Nga. Ông miêu tả cảnh sinh hoạt cực kỳ tồi tệ trong thời kỳ của bọn diệt chủng Polpot với sự "chỉ đạo" của Trung Quốc.
Qua đó ta có thể phác họa các mối ngoại giao trong tam giác TQ - VN - CPC này. Tác giả am hiểu lịch sử của VN, CPC rất kĩ và sinh sống ở CPC hơn 10 năm và có mối quan hệ thân thiết với luật sư Nguyễn Hữu Thọ, quốc vương Sihanuk và những nhân vật cấp cao khác.
Tuy nhiên chúng tôi chỉ đăng trích phần sự dính líu của Trung Quốc khi CPC đánh VN và giai đoạn Trung Quốc đang ở giai đoạn chuẩn bị "âm mưu đánh Việt Nam" và những cuộc xung đột biên giới giữa Việt Nam - TQ và Việt Nam - CPC được ông Unfred Berssett kể lại qua những lời nói của cán bộ Việt Nam khi đó.
Xin trích một đoạn trong sách:
"Thời kỳ năm 1970 - 1975, Khmer Đỏ coi Việt Nam là người bạn số 1, Triều Tiên là người bạn số 2 và Trung Quốc là người bạn số 3. Kẻ thù số 1 là Mỹ - CIA; số 2 là bọn tàn quân của các lực lương Lon Non và số 3 là ảnh hưởng của Sihanuk. Sau chiến thắng tháng 4 năm 1975, Trung Quốc chuyển lên giữ vị trí số 1 trong số các bạn bè và Việt Nam tụt xuống hàng thứ 7. Kẻ thù số 1 vẫn là Mỹ - CIA, kẻ thù số 2 là tàn quân Lon Non - Thái lại đã chiếm vị trí ảnh hưởng của Sihanuk trở thành kẻ thù số 3.Đến tháng 4 năm 1977, kẻ thù số 1 lại là Việt Nam, tiếp đến là các tàn quân Lon Non và KGB giữ vị trí số 2 và số 3. Còn Trung Quốc vẫn là số 1 và Triều Tiên là số 2 trong số bạn bè".
Chúng lập luận rằng thống nhất Việt Nam là phản bội lại "Cuộc Cách mạng chung". Trong cuốn sách nói có nói về thái độ của Trung Quốc trong sự kiện đàm phán Paris và những cuộc thảm sát tập thể không thua kém gì Mỹ Lai của bọn diệt chủng ở dọc biên giới Tây Nam. Một thời mà bọn Pol Pot tuyên bố rằng "ở đâu có cây thốt nốt thì ở đó là lãnh thổ của vương quốc Khmer"...
Đồng thời nói sơ nét về cảnh sống của người Hoa kiều ở Sài Gòn trước những xung đột (lúc này chưa xảy ra chiến tranh nhưng mâu thuẫn VN - TQ đã lên đến cực điểm).
Trích một đoạn mà tác giả hỏi bộ trưởng ngoại giao Việt Nam là ông Nguyễn Cơ Thạch: "Tại sao một nước Campuchia với 5 - 6 triệu dân mà dám đánh Việt Nam với 50 triệu dân đồng thời có một đội quân thiện chiến có nhiều kinh nghiệm?", thì ông Nguyễn Cơ Thạch trả lời: "Tại sao Ixrael chỉ có 3 triệu dân mà dám xâm lăng Ai Cập với 35 triệu dân? Bởi vì Khmer Đỏ được đảm bảo sau lưng của chúng là hơn 800 triệu người Trung Quốc, cũng như Ixrael có cả sức mạnh của Hoa Kỳ làm chỗ dựa!".
Cuốn sách này giúp bạn có thể biết chút ít trước những thông tin hiếm hoi về giai đoạn này. Đồng thời bạn có thể tự giải đáp cho mình "Tại sao Trung Quốc đánh Việt Nam vào năm 1979 ?"
Để hiểu rõ quan hệ Việt-cam cần hiểu về quan hệ giữa phong kiến Việt Nam và phong kiến khơ me. Vào triều Nguyễn, sai Nguyễn Hữu Cảnh vào khai phá Miền Nam,nhưng thật ra miền Nam lúc đó đã là đất của Cam.Việt Nam ta có được miền Nam thực ra là mang gươm đi mở cõi,lúc đó Việt mạnh hơn nhiều nên Cam đành chịu. Cũng dống như đất miền Trung(từ Quảng Bình đến Bình Thuận) là đất của vương quốc Chăm Pa, qua bao triều đại phong kiến xâm chiếm mà có được. Chính vì vậy thằng Cam vẫn còn A Cay ta đến bây giờ,vào thời Pôn Pôt, dưới sự chị đạo, giúp sức của Tàu,bọn Ponpot phát động chiến tranh, lấy khẩu hiệu là đòi lại đất.
Cho đến bây giờ,Cam lúc nào cũng tỏ ra thân thiện với ta nhưng ko được như chú em Lào, giữa 2 nước lúc nào cũng đề phòng. Hiện nay, Việt Nam đã phân định biên giới trên bộ xong với TQ và Lào,nhưng còn Cam thì vẫn đang nhùng nhằng,chưa giải quyết được. Mới đây lại xẩy ra vụ phá hoại cột mốc giữa 2 nước, thủ phạm là 1 người Cam (204 - Cọc mốc biên giới Việt Nam - Campuchia: Bị chủ tịch đảng SRP nhổ bỏ), nhưng theo tôi chắc là do 1 trong 2 nước giật dây.
May im di, bjk deo ji ma noj.2 quan dao do la cua trung quoc chu vn sau nay moj ra chjem.jo thang tq no doj laj thuj .hoj truoc t o ngoaj do ma deo pjt ro ak!! ma t cg mong co chjen tranh de duoc nghj hox! dj hox chan bo me ...
May moj nhuc do! xjn loj pan lich su mjnh dc 8. Do.Hum pjt thj dua cot ma nghe caj do la of tq sau nay vn ra chjem hjeu chua! hum pjt ji ma noj tam bay .Con keu nguoj ta dj chet nua chu! mun chet hok cung lam thj chet chung thoj! ma'...
(Bình luận trên forum ductrong)
Em đoán đó là lời của 1 con ranh như thế này đây: Đại khái đó là 1 con ranh tuổi teen như thế này.Thật đáng buồn, có bạn nào điều tra ra con ranh nào "nhí nhảnh hồn nhiên" là tác giả của 2 câu nói trên như thế này thì tẩn cho nó hộ em
Ngụy biện hay là giả tạo?
Phỏng vấn bà vợ TBT Lê Duẩn
Ngày 21 tháng 12 năm 2008, đặc phái viên “NED”BBC Xuân Hồng đã dụ khị phỏng vấn Bà Bảy Vân (bà có thật là vợ chánh Tổng Bí thư Lê Duẩn không? ĐDTB), không ngờ, bà đã kết tội chồng bà TBT Lê Duẩn dâng Hoàng Sa cho Trung quốc, là bà nói rằng: “Trung Quốc lấy cái thế là trước kia ông Phạm Văn Đồng có ký một văn bản cho phép Trung quốc quản lý ở Hoàng Sa vì 'ngụy' đã đóng ở đó”. Bà Bảy Vân, vô ý thức, trình độ chính trị ăn đong và chẳng biết gì về Đảng CSVN. Thế là, bà “ngụy tưởng tưởng, và phản động”phịa chuyện Thủ tương Phạm Văn Đồng có ký một văn bản dâng Hoàng Sa, để kết án TBT Lê Duẩn phản quốc.
Nếu thật bà Bảy Vân là vợ chánh (là Mẹ ruột của Tiến sĩ Lê Kiên Thành, con trai trưởng, quân hàm Đại úy) hay vợ hờ của Lê Duẩn? thì thời đó bà Vân chỉ là phục dịch nội trợ lo cho gia đình, chẳng có quyền lực, chức vụ hay ủy viên BCT …. đảng CSVN. Thế nên, bà Bảy không biết TBT Lê Duẩn thâu tóm quyền lực Đảng CSVN từ năm 1957 – 1959, click đọc TUYỂN TẬP CHA GIÀ LÊ DUẨN (KỲ I) & (KỲ II) (trong tuyển tập TBT Lê Duẩn, có bài viết Bắt Đầu Cuộc Thâu Tóm Quyền Lực của đài BBC, ngày 4/5/06), bà nên nhớ quyền lực TBT Lê Duẩn uy lực vô cùng, có thế TBT Lê Duẩn, thực hiên được hoài bảo thống nhất đất nước vào năm 1975. Cho nên Thủ tướng Phạm Văn Đồng không thể đạp lên quyền lực và quyền uy TBT Lê Duẩn vào năm 1958, để tự ký văn bản (văn bản Ma do bà ‘ngụy ngôn’) cho phép Trung quốc quản lý Hoàng Sa.
Để cuối cùng, bà lại tráo trở dựng chuyện phịa là: Và khi đất nước thống nhất rồi, bà Bảy Vân cho biết ông Lê Duẩn đã nói: “Bằng cách nào cũng phải chiếm lại Hoàng Sa”, sao bà Bảy Vân dựng chuyện quá tồi, chẳng qua bà là nữ nhi già khùng khùng điên điên, là có ai đã dâng Hoàng Sa, lại phải “Bằng cách nào cũng phải chiếm lại Hoàng Sa”
ĐDTB nghi Bà Bảy Vân là vợ hờ của TBT Lê Duẩn? đầy quyền uy nhất nước từ năm 1957 đến 1986, cho nên bà Bảy Vân được TBT Lê Duẩn yêu thương ban cho chức vụ Phó tổng Biên Tập báo Sàigòn Giải Phóng, tờ báo Đảng, không cần kiến thức và trình độ chính tri đảng viên CSVN. ĐDTB nhấn mạnh cho bà biết, công cuộc đổi mới, Kinh Tế Thị Trường Trong Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa (KTTTTĐHXHCN) có từ thời chồng bà TBT Lê Duẩn, từ năm 1964 (theo tiến sĩ Lê Đăng Doanh), nhưng vì chiến tranh không thực hiện được cho đến khi an ninh tổ quốc bền vững.vào năm 1986 và trong thời gian vài tháng TBT Lê Duẩn trước khi mất năm 1986, TBT Lê Duẩn và Đảng đang thực hiện chính sách đổi mới cải cách KTTTTĐHXHCN, để rồi Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Võ Văn Kiệt….thực hiện chính sách cải cách đổi mới “bền vững - dục tốc bất đạt”của Đảng đạt nhiều thành công. Nhưng đế quốc Mỹ và Việt gian VNCH phản động đã “bơm vá” Thủ tướng Võ Văn Kiệt là người khởi xướng Cải cách đổi mới phát triển đất nước (sic)
Bà có biết không? Vào ngày 2/12/07, Trung quốc có quyền tự do tuyên bố lếu láo thành lập đơn vị hành chánh Tam Sa trong đó có Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam, nhưng có thực hiện được hay không? mặc dầu đế quốc thực dân xâm lược Mỹ-Pháp đều biết rằng Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam mà bọn chúng xâm lăng, tuần tra, khảo sát và đô hộ Việt Nam trên 100 năm.
Nhưng bọn đế quốc xâm lược Pháp-Mỹ muốn Biển Đông dậy sóng, người Á châu giết nhau vào thế kỷ 21, cho nên đế quốc Mỹ thay Pháp đô hộ nừa nước Miền Nam VN, đã thỏa thuận ngầm cho Trung quốc chiếm 3/4 đảo Hoàng Sa vào năm 1954, và chiếm thêm 1/4 còn lai, toàn bộ vào năm 1974, trước khi chiến bại bỏ chay vào năm 1975 (hải quân Trung quốc từ năm 1950 đến 1975 chỉ là con dế mèn làm sao sánh bằng Con Voi Hạm đội 7 USA, ngay thế kỷ 21, gom các hạm đội cả nước Trung Hoa đối đầu Hạm đội 7 USA, chỉ trong vòng 3 giờ hải quân Trung quốc bị tiêu diệt toàn bộ chìm xuống biển Đông).
Mỹ đã diễn tuồng để chính Ngụy VNCH dâng 1/4 Hoàng Sa còn lại cho Trung quốc đã được phụ tá Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, là ông Nguyễn Văn Ngân xác nhận qua bài viết dưới đây. Thật vây, nếu có văn bản ký dâng Hoàng Sa cho Trung Quốc thì Trung quốc đã công bố cho thế giới biết rõ sự việc và Mỹ-Pháp chạy tội âm mưu thỏa thuận ngầm cho TQ chiếm đất VN, như thế Việt Nam không còn đủ tư cách vận động ngoại giao hòa bình lấy lại Hoàng Sa. Không những thế Việt gian VNCH, đã diễn tuồng cho Mỹ và chạy tội dâng Hoàng Sa cho TQ. Chúng dùng bức thư của Thủ tướng Phạm Văn Đồng gởi cho Thủ tướng Chu Ân Lai, ghi nhận và tán thán bản tuyên ngôn, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của chính phủ nước Công hòa Nhân dân Trung-hoa, quyết định về hải phận của Trung-quốc. Thế mà chúng quá ngu dốt và đần độn cho đây là:VĂN KIỆN CHỨNG MINH CỘNG SẢN HÀ NỘI DÂNG ĐẤT CHO CỘNG SẢN BẮC KINH
Trong tình nghĩa anh em Việt - Trung và nhất là để minh định lãnh thổ nước Trung Hoa bao gồm cả hai đảo KIM MÔN và MÃ TỔ đang bị Đài Loan chiếm giữ ở trong lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc. TBT Lê Duẩn và Đảng CSVN, đã ủy nhiệm cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng viết bức thư gởi cho Thủ tướng Chu Ân Lai ghi nhận và tán thán bản tuyên ngôn, ngày 4 tháng 9 năm 1958, công nhận lãnh hải 12 hải lý, chứ không phải là VĂN KIỆN DÂNG ĐẤT, mà bọn Việt gian VNCH khùng khùng điên điên ngụy tích và chạy tội dâng Hoàng Sa cho Trung Quốc đó ạ!
Qua những dẫn chứng này, Bà Bảy Vân, phải đến trước mô TBT Lê Duẩn tạ tội, bằng chén thuốc độc, nhưng trước đó bà phải đến trước Lăng Bác Hồ quỳ lại bảy ngày đêm tạ tội với Bác, toàn dân và toàn đảng Việt Minh Cộng Sản Đảng
Trước khi bà tạ tội và uống chén thuốc độc, ĐDTB mong Bà Bảy Vân đọc bài dưới đâyChúng tôi có bài báo nhà văn VNQDĐ Hoàng Đạo viết năm 1938 trên Ngày Nay, gần 70 năm: "Quần Đảo Của Ai?", trích từ mạng Talawas và nhận được Email bài viết: Việt Nam Cộng Hòa Dâng Đảo Hoàng Sa cho Trung Quốc của Đặng Văn Hoa, có đọan nhà văn Hoàng Đạo viết rằng: "...Lấy mới cũ mà nói, thì nó là của An-nam. Nhưng ở trường quốc tế, người ta không ai theo luật mới cũ cả.Cho nên quần đảo ấy chẳng là của ai cả. Nó chỉ là của sức mạnh." và Email Đặng Văn Hoa cho biết chính VNCH dâng đất cho Trung quốc như sau: “Đánh để cho Trung Cộng chiếm, đặt Cộng sản Hà Nội chuyện đã rồi. Thế có nghĩa là cho Trung Cộng chiếm còn hơn để thằng Cộng sản Hà Nội cai trị, không ăn thì đạp đổ - Ai dâng đất cho Trung Cộng đây - Việt Nam Cộng Hòa chứ còn ai nữa”. ĐDTB cho lên mạng hai bài viết này, để lột mặt nạ bọn Việt gian phản quốc VNCH, đã và đang phát động phong trào chống Trung quốc chiếm Hoàng Sa năm 1974, và Trung Quốc tuyên bố thành lập đơn vị hành chánh Tam Sa, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào ngày 2-12-07. Để rủa xả nhà nước Việt Nam và Việt Minh Cộng Sản Đảng là hèn hạ nhục nhã, đã dâng đất dâng biển cho Trung quốc, mà lai còn đàn áp sinh viên trong nước biểu tình chống Trung quốc về sự kiện Hoàng Sa và Trường Sa. Thật ra bọn này cố tạo sự bất hòa và phá thối chính quyền Việt Nam đã và đang thương thảo ngoại giao hòa bình với Trung quốc hãy trao trả quần đảo Hoàng Sa cho Việt Nam.
Thật vậy, bọn Ngụy VNCH, biết rất rõ chính quan thầy đế quốc Mỹ, đã thỏa thuận ngầm dâng Hoàng Sa cho Trung quốc trước năm 1974, là hầu hết các đảo ở Hoàng Sa, đã bị Trung quốc chiếm trước năm 1973, do phái đoàn Việt Nam và Nhật Bản đi sưu khảo Hoàng Sa trong phái đoàn có Kỹ sư Lưu, khi tới quần đảo Hoàng Sa đã thấy cờ Trung quốc ở nhiều đảo rồi vào năm 1973, cho đến ngày 19-1-1974, thì Trung quốc chiếm hết, và ông Ngân cũng đã cho biết như sau: “Cũng tương tự như vậy, việc Trung Cộng chiếm Hoàng vào đầu năm 1974 đã được sự thỏa thuận ngầm của Mỹ để đặt Cộng Sản Hà nội sau này trước một “fait accompli”. Ông Thiệu biết Hải quân Việt Nam không đủ sức đương đầu với hải quân Trung Cộng và hạm đội 7 Hoa Kỳ sẽ không can thiệp nhưng ông vẫn ra lệnh tái chiếm như một chứng liệu về chủ quyền lãnh thổ sau này” Tìm đọc Ô. Trần Phong Vũ Phỏng Vấn Ô. Nguyễn Văn Ngân...Chính Quyền VNCH Bù Nhìn Của Mỹ
Trung Quốc có quyền tuyên bố láo lếu, ngang ngược về chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa, nhưng có thực hiện được hay không? Cũng như bọn Việt gian phản quốc chống Việt Nam ở hải ngoại, chẳng có lực lượng, chẳng có khẩu súng…, suốt trên 32 năm chỉ có cái MÕM “C”, tuyên bố giải thể, lật đổ, không cho CSVN hòa hợp hòa giải và giết hết đảng viên CSVN…đã phát động những phong trào bằng MÕM “C” đòi chiếm lai Hoàng Sa, nhưng không có lính, toàn là tướng tá, tổng thống, không có viên đạn…mà bọn chúng biết quan thầy đế quốc Mỹ đã dâng Hoàng Sa cho Trung quốc vào năm 1974, và để chạy tội phản quốc và tay sai Mỹ của Việt Nam Cộng Hòa dâng đảo Hoàng Sa cho Trung Quốc .
Đọc bài của phó đề đốc Hồ Văn Kỳ Thoại người ra lệnh tác chiến. Đọc bài “Trận Hải chiến lịch sử Hoàng Sa” của Đại tá Hà Văn Ngạc, người ra lệnh khai hỏa, đăng trên các báo và mạng Internet ở hải ngoai. Chúng ta không thể hiểu nỗi Ngụy quân VNCH: Ông Thiệu và ông Kỳ Thoại cho lênh đánh đại, bất cần binh pháp “Địch yếu ta đánh, Địch manh ta chạy”, là nướng quân, vô trách nhiệm, và bao nhiêu người chết oan….có đánh là để cho Trung quốc chiếm Hoàng Sa mà thôi, có nghĩa là VNCH dâng đảo Hoàng Sa cho Trung quốc đó ạ!Con đường ngoại giao hòa bình của nhà nước Việt Nam, đã thành công, thành công và đại thành công, là Trung quốc chấp nhận ký hiệp ước biên giới với Việt Nam. Nên nhớ bản đồ Trung quốc, từ thời nhà Thanh, Tưởng Giới Thạch cho đến Mao Thạch Đông, họ tự vẽ biên giới của họ xuống tận Tân Gia Ba. Thế nay, Trung quốc đã xác định rằng có nước Việt Nam có chung đường biên giới trên bộ và trên biển với họ. Cho nên, sinh viên, học sinh, và …. trong nước, biểu tình chống Trung quốc về sự kiện Trường Sa và Hoàng Sa là phạm pháp, vì nhà nước ta đã và đang ngoại giao hòa bình và hữu nghị với Trung quốc để đem lại an ninh, hòa bình và phát triển cho toàn khu vực Đông Nam Á và Á Châu
Một sự kiên, chống Việt Nam của bọn Việt gian phản quốc ở hải ngoại, quá ngu dốt và trơ trẻn khi đem bức thư của Thủ tướng Phạm Văn Đồng gởi cho Thủ tướng Chu Ân Lai, đã ghi nhận và tán thán bản tuyên ngôn, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của chính phủ nước Công hòa Nhân dân Trung-hoa, quyết định về hải phận 12 hải lý của Trung-quốc, cũng như VNCH cũng công nhận 12 hải lý của Trung quốc, đã được ông Phó đề đốc Hồ Văn Kỳ Thoại xác nhận “Việt Nam Cộng Hòa tuyên bố là 12 hải lý cách bờ biển, quốc tế thường công nhận 3 hải lý” trang 41( Việt Tide 335). Thế mà, bọn Ngụy VNCH này lại cho rằng đây là “VĂN KIỆN CHỨNG MINH CỘNG SẢN HÀ NỘI DÂNG ĐẤT CHO CỘNG SẢN BẮC KINH” (trang bìa Việt Tide, số 335 không có chữ Hoàng Sa và Trường Sa trong bức thư của Ngài Thủ Tướng Phạm Văn Đồng). Nếu có Công hàm hay Văn kiện dâng đất dâng biển quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, thì xuyên suốt hơn 30 năm ở hải ngoại, những phong trào phản quốc Ngụy VNCH chống Việt Nam, đã công bố và phổ biến trên hằng trăm tờ báo, mạng Internet, và đài BBC, VOA, RFI,....RFA/NED (Á Châu Tự Do). Đông Dương Thời Báo, cho lên mạng bức thư của Phạm Văn Đồng gởi cho Thủ tướng Chu Ân Lai, ngày 14/9/1958 (trang bìa Việt Tide, số 335) cống hiến bạn đoc dưới đây:
QUẦN ĐẢO CỦA AI?
Hoàng Đạo
Đảo Hoàng Sa
Bài báo này Hoàng Đạo viết năm 1938 trên Ngày Nay, gần 70 năm, nhưng giá trị thời sự vẫn còn nóng bỏng. Đảo Hoàng Sa, mà người Pháp gọi là Paracels, đã là nguyên nhân tranh chấp giữa nhiều quốc gia thời ấy. Hoàng Đạo đã bình luận một cách tiên tri, rằng hòn đảo ấy “chỉ là của sức mạnh”. Ngày nay, nó còn là kết quả của sự thần phục và tinh thần nhược tiểu.Quần đảo Paracels bỗng nhiên hóa ra quan trọng.
Bia chủ quyền VN ở Hoàng Sa được dựng vào những năm 1930 (ảnh chụp tại phòng lữu trữ tư liệu Hoàng Sa, Đà Nẵng) - Ảnh: V.Hùng chụp lại. Nguồn: TTO
Mấy hòn núi nhấp nhô trên mặt biển Đông, bỏ hoang đã bao nhiêu thế kỷ, bỗng nhiên ai nấy đều đến hỏi han một cách âu yếm lắm.
Nước Pháp và nước An-nam bảo là lĩnh thổ của mình và cố tìm trong kho sách mọt những chứng cớ cổ: Người An-nam đến đảo đã hơn một trăm năm, và vua Gia Long đã có dụ sát nhập đảo vào nước Nam. Và hăng hái đem quân đến.
Nước Nhật không bằng lòng, và cả quyết nói: đảo ấy của người Nhật. Vì có người Nhật được khai khẩn trong đảo. Rồi cũng hăng hái đem quân đến.
Nước Tàu của Tưởng Giới Thạch cũng ra mặt đòi là của mình. Vì từ 1909, Tàu đã sát nhập quần đảo vào lĩnh thổ Tàu rồi. Nhưng không hăng hái đem quân đến, vì có muốn cũng chẳng còn quân đâu mà kéo đến nữa.
Vậy quần đảo là của ai?
Lấy mới cũ mà nói, thì nó là của An-nam. Nhưng ở trường quốc tế, người ta không ai theo luật mới cũ cả.
Cho nên quần đảo ấy chẳng là của ai cả. Nó chỉ là của sức mạnh.
Rồi đây, Pháp mạnh hơn Nhật, thì nó là của Pháp. Mà nếu Nhật mạnh hơn Pháp, thì nó là của Nhật.
Còn Tàu, cái nước to mà yếu, thì ai người ta kể đến làm gì cho nhọc.
(trích Người và Việc, Ngày Nay số 120, ngày 24/7/1938)
Theo Ban Mai Xanh thì cái chỗ rác rưỡi này cũng bằng số lượng tàu chiến hải quân của ta bây giờ rùi, VN ta cần phải mua cần phải lắp thêm nhiều tàu nữa mý được
Phản đối VTC mua hình tượng lính Trung Quốc đưa vào game Đột kích! Mới lên trang chủ cf.vtc.vn thấy cái này , bực không tả được.
Nhìn qua cũng biết là lính Phi Hổ của Trung Quốc, vậy mà chúng nó dám mang về đây!
Bình luận :
19/01/1974 ngày này 36 năm trước, Trung Quốc đã chiếm quần đảo Hoàng Sa của Tổ quốc Việt Nam. Chúng ta không hề quên, chúng ta sẽ đòi lại. Đất mẹ ơi, con yêu người.
"Ðất nước Việt Nam có khi thịnh khi suy, lịch sử Việt Nam có khi hưng khi phế, thế hệ trước không giữ được Hoàng Sa nhưng không phải vì thế mà Hoàng Sa trở thành đất của Trung Quốc hay của bất cứ một quốc gia nào khác. Dân tộc Việt Nam, các thế hệ Việt Nam hôm nay và mai sau phải nhớ rằng: Bất cứ khi nào các điều kiện kinh tế, chính trị và quân sự cho phép, một trong những việc đầu tiên là phải lấy lại Hoàng Sa." ( Hoangsa.org)
Trong một phần tư thế kỷ vừa qua, nhà cầm quyền Trung Quốc đã lần lượt lấn chiếm hết khu vực này đến khu vực khác của Việt Nam, từ khu vực nhỏ hẹp đến khu vực to lớn, từ khu vực quan trọng về quân sự đến khu vực quan trọng về kinh tế. Họ đã dùng đủ loại thủ đoạn, kể cả những thủ đoạn xấu xa mà các chế độ phản động của Trung Quốc trước kia không dùng. Dưới đây là một số thủ đoạn chính:
1- Từ xâm canh, xâm cư, đến xâm chiếm đất.
Lợi dụng đặc điểm là núi sông hai nước ở nhiều nơi liền một giải, nhân dân hai bên biên giới vốn có quan hệ họ hàng, dân tộc, phía Trung Quốc đã đưa dân họ vào những vùng lãnh thổ Việt Nam để làm ruộng, làm nương rồi định cư. Những người dân đó ở luôn chỗ có ruộng, nương, cuối cùng nhà cầm quyền Trung Quốc ngang ngược coi những khu vực đó là lãnh thổ Trung Quốc.
Khu Vực Trình Tường thuộc tỉnh Quảng Ninh là một thí dụ điển hình cho kiểu lấn chiếm đó. Khu vực này được các văn bản và các bản đồ hoạch định và cắm mốc xác định rõ ràng là thuộc lãnh thổ Việt Nam. Trên thực tế, trong bao nhiêu đời qua, những người dân Trình Tường, những người Trung Quốc sang quá canh ở Trình Tường đều đóng thuế cho nhà đương cục Việt Nam. Nhưng từ năm 1956, phía Trung Quốc tìm cách nắm số dân Trung Quốc sang làm ăn ở Trình Tường bằng cách cung cấp cho họ các loại tem phiếu mua đường vải và nhiều hàng khác, đưa họ vào công xã Đồng Tâm thuộc huyện Đông Hưng, khu tự trị Choang-Quảng Tây. Nhà đương cục Trung Quốc nghiễm nhiên biến một vùng lãnh thổ Việt Nam dài 6 kí-lô-mét, sâu hơn 1300 kí-lô-mét thành sở hữu tập thể của một công xã Trung Quốc. Từ đó, họ đuổi những người Việt Nam đã nhiều đời nay làm ăn sinh sống ở Trình Tường đi nơi khác, đặt đường dây điện thoại, tự cho phép đi tuần tra khu vực này, đơn phương sửa lại đường biên giới sang đồi Khâu Thúc của Việt Nam. Tiếp đó, họ đã gây ra rất nhiều vụ hành hung, bắt cóc công an vũ trang Việt Nam đi tuần tra theo đường biên giới lịch sử và họ phá hoại hoa màu của nhân dân địa phương.
Trình Tường không phải là một trường hợp riêng lẻ, còn đến trên 40 điểm khác mà phía Trung Quốc tranh lấn với thủ đoạn tương tự như xã Thanh Lòa, huyện Cao Lộc (mốc 25, 26, 27) ở Lạng Sơn, Khẳm Khau (mốc 17-19) ở Cao Bằng, Tả Lũng, Làn Phù Phìn, Minh Tân (mốc 14) ở Hà Tuyên, khu vực xã Nặm Chay (mốc 2-3) ở Hoàng Liên Sơn với chiều dài hơn 4 kí-lô-mét, sâu hơn 1 kí-lô-mét, diện tích hơn 300 héc-ta. Có thể nói đây là một kiểu chiếm đất một cách êm lặng.
2- Lợi dụng việc xây dựng các công trình hữu nghị để đẩy lùi biên giới sâu vào lãnh thổ Việt Nam.
Năm 1955, tại khu vực Hữu nghị quan, khi giúp Việt Nam khôi phục đoạn đường sắt từ biên giới Việt-Trung đến Yên Viên, gần Hà Nội, lợi dụng long tin của Việt Nam, phía Trung Quốc đã đặt điểm nối ray đường sắt Việt-Trung sâu trong lãnh thổ Việt Nam trên 300 mét so với đường biên giới lịch sử, coi điểm nối ray là điểm mà đường biên giới giữa hai nước đi qua. Ngày 31 tháng 12 năm 1974, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa đã đề nghị Chính phủ hai nước giao cho nghành đường sắt hai bên điều chỉnh lại đường nối ray cho phù hợp đường biên giới lịch sử nhưng họ một mực khước từ bằng cách hẹn đến khi hai bên bàn toàn bộ vấn đề biên giới thì sẽ xem xét. Cho đến nay, họ vẫn trắng trợn ngụy biện rằng khu vực hơn 300 mét đường sắt đó là đất Trung Quốc với lập luần rằng “không thể có đường sắt của nước này đặt trên lãnh thổ nước khác”. Cũng tại khu vực này, phía Trung Quốc đã ủi nát mốc biên giới số 18 nằm cách cửa Nam quan 100 mét trên đuờng quốc lộ để xóa vết tích đường biên giới lịch sử, rồi đặt cột kí-lô-mét 0 đường bộ sâu vào lãnh thổ Việt Nam trên 100 mét, coi đó là vị trí đường quốc giới giữa hai nước ở khu vực này.
Như vậy, họ đã lấn chiếm một khu vực liên hoàn từ đường sắt sang đường bộ thuộc xã Bảo Lâm, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn của Việt Nam, dài 3100 kí-lô-mét và vào sâu đất Việt Nam 0,500 kí-lô-mét. Năm 1975, tại khu vực mốc 23 (xã Bảo Lâm, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn), họ định diễn lại thủ đoạn tương tự khi hai bên phối hợp đặt đường ống dẫn dầu chạy qua biên giới: phía Việt Nam đề nghị đặt điểm nối ống dẫn dầu đúng đường biên giới, họ đã từ chối, do đó bỏ dở công trình này. Khi xây dựng các công trình cầu cống trên sông, suối biên giới, phía Trung Quốc cũng lợi dụng việc thiết kế kỹ thuật làm thay đổi dòng chảy của sông, suối về phía Việt Nam, để nhận đường biên giới có lợi cho phía Trung Quốc.
Cầu ngầm Hoành Mô thuộc tình Quảng Ninh được Trung Quốc giúp xây dựng vào năm 1968. Một thời gian dài sau khi cầu được xây dựng xong, hai bên vẫn tôn trọng đường biên giới ở giữa cầu ; vật liệu dự trữ để sửa chữa cầu sau này cũng được đặt ở mỗi bên với số lượng bằng nhau tính theo đường biên giới giữa cầu. Nhưng do Trung Quốc có sẵn ý đồ chỉ xây một cống nước chảy nằm sát bờ Việt Nam nên lưu lượng dòng chảy đã chuyển hẳn sang phía Việt Nam, từ đó phía Trung Quốc dịch đường biên giới trên cầu quá sang đất Việt Nam. Thủ đoạn như vậy cũng được thực hiện đối với cầu ngầm Pò Hèn (Quảng Ninh), đập Ái Cảnh (Cao Bằng), cầu Ba Nậm Cúm (Lai Châu)…
3- Đơn phương xây dựng các công trình ở biên giới lấn sang đất Việt Nam.
Trên đoạn biên giới đất liền cũng như ở các đoạn biên giới đi theo sông suối, tại nhiều nơi, phía Trung Quốc đã tự tiện mở rộng xây dựng các công trình để từng bước xâm lấn đất.
Tại khu vực mốc 53 (xã Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng) trên sông Quy Thuận có thác Bản Giốc, từ lâu là của Việt Nam và chính quyền Bắc Kinh cũng đã công nhận sự thật đó. Ngày 29 tháng 2 năm 1976, phía Trung Quốc đã huy động trên 2000 người, kể cả lực lượng vũ trang lập thành hàng rào bố phòng dày đặc bao quanh toàn bộ khu vực thác Bản Giốc thuộc lãnh thổ Việt Nam, cho công nhân cấp tốc xây dựng một đập kiên cố bằng bê-tông cốt sắt ngang qua nhánh sông biên giới, làm việc đã rồi, xâm phạm lãnh thổ Việt Nam trên sông và ở cồn Pò Thoong và ngang nhiên nhận cồn này là của Trung Quốc.
Các thị trấn Ái Điểm (đối diện với Chi Ma, Lạng Sơn), Bình Mãng (đối diện Sóc Giang, Cao Bằng) vốn đã nằm sát các mốc giới 43 và 114, lại ngày càng được phía Trung Quốc mở rộng ra lấn sang đất Việt Nam từ hang chục đến hàng trăm mét với Công trình nhà cửa, trường học, khu phố… Bằng cách tổ chức lâm trường, trồng cây gây rừng, làm đường chắn lửa, đặt hệ thống điện cao thế, điện thoại lấn vào lãnh thổ Viêt Nam, Trung Quốc đã biến nhiều vùng đất khác của Việt Nam thành đất của Trung Quốc.
4- Từ mượn đất của Việt Nam đến biến thành lãnh thổ của Trung Quốc.
Ở một số địa phương, do địa hình phức tạp, điều kiện sinh hoạt của dân cư Trung Quốc gặp khó khăn, theo yêu cầu của phía Trung Quốc, Việt Nam đã cho Trung Quốc mượn đường đi lại, cho dùng mỏ nước, cho chăn trâu, lấy củi, đặt mồ mã… trên đất Việt Nam. Nhưng lợi dụng thiện chí đó của Việt Nam, họ đã dần dần mặc nhiên coi những vùng đất mượn này là đất Trung Quốc. Khu vực Phia Un (mốc 94-95) thuộc huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng là điển hình cho kiểu lấn chiếm này. Tại đây, mới đầu phía Trung Quốc mượn con đường mòn, rồi tự ý mở rộng mặt đường để ô-tô đi lại được vào khu vực mỏ của Trung Quốc, đặt đường dây điện, đưa dân đến ở ngày càng đông, lập làng bản mới. Dựa vào “thực tế” đó, từ 1956 họ không thừa nhận đường biên giới lịch sử chạy trên đỉnh núi Phía Un mà đòi biên giới chạy xa về phía nam con đường, sâu vào đất Việt Nam trên 500 mét. Lý lẽ của họ là nếu không phải đất của Trung Quốc sao họ lại có thể làm đường ô-tô, đặt đường điện thoại được… Nguyên nhân chủ yếu của việc lấn chiếm là vì khu vực Phía Un có mỏ măng-gan.
5- Xê dịch và xuyên tạc pháp lý các mốc quốc giới để sửa đổi đường biên giới.
Ngoài việc lợi dụng một số các mốc giới đã bị Trung Quốc xê dịch từ trước sai với nguyên trạng đường biên giới lịch sử để chiếm giữ trái phép đất Việt Nam, nay phía Trung Quốc cũng tự ý di chuyển mốc ở một số nơi, hoặc lén lút đập phá, thủ tiêu các mốc không có lợi cho họ như ở khu vực Chi Ma (Lạng Sơn), khu vực mốc 136 ở Cao Bằng… Đối với những trường hợp như vậy, họ đều khước từ đề nghị của phía Việt Nam về việc hai bên cùng điều tra và lập biên bản xác nhận. Ngay tại một số nơi mà vị trí mốc giới đặt đúng với đường biên giới đã rõ ràng chạy giữa hai mốc như khu cực Kùm Mu-Kim Ngân-Mẫu Sơn (mốc 41, 42, 43) ở Lạng Sơn dài trên 9 ki-lô-mét, sâu vào đất Việt Nam 2,5 ki-lô-mét, diện tích gần 1000 héc-ta, khu vục Nà Pảng – Kéo Trình (mốc 29, 30, 31) ở Cao Bằng, dài 6,450 ki-lô-mét, sâu vào đất Việt Nam 1,300 ki-lô-mét, diện tích gần 200 héc-ta.
6- Làm đường biên giới lấn sang đất Việt Nam.
Để chuẩn bị cho các cuộc tiến công xâm lược Việt Nam, liên tiếp trong nhiều năm trước, phía Trung Quốc đã thực hiện kế hoạch làm đường biên giới quy mô lớn nấp dưới danh nghĩa là để “cơ giới hóa nông nghiệp”. Đặc biệt là từ năm 1974 lại đây, họ đã mở ồ ạt những chiến dịch làm đường có nơi huy động một lúc 8,000 người vào công việc này. Trong khi làm các đường đó, họ phá di tích về đường biên giới, lịch sử, nhiều nơi họ đã lấn vào lãnh thổ Việt Nam, chỉ tính từ tháng 10 năm 1976 đến năm 1977, bằng việc làm đường biên giới họ đã lấn vào đất Việt Nam tại hàng chục điểm, có điểm diện tích rộng trên 32 héc-ta, sâu vào đất Việt Nam trên 1 kí-lô-mét như khu vực giữa mốc 63-65 thuộc huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng hay khu vực giữa mốc 1-2 Cao Ma Pờ thuộc tỉnh Hà Tuyên dài 4 kí-lô-mét, sâu vào đất Việt Nam 2 kí-lô-mét.
7- Lợi dụng việc vẽ bản đồ giúp Việt Nam để chuyển dịch đường biên giới.
Năm 1955-1956, Việt Nam đã nhờ Trung Quốc in lại bản đồ nước Việt Nam tỷ lệ 1/100.000. Lợi dụng lòng tin của Việt Nam, họ đã sửa ký hiệu một số đoạn đường biên giới dịch về phía Việt Nam, biến vùng đất của Việt Nam thành đất Trung Quốc. Thí dụ: họ đã sửa ký hiệu ở khu vực thác Bản Giốc (mốc 53) thuộc tỉnh Cao Bằng, nơi họ định chiếm một phần thác-Bản Giốc của Việt Nam và cồn Pò Thoong.
8- Dùng lực lượng vũ trang uy hiếp và đóng chốt để chiếm đất.
Trên một số địa bàn quan trọng, phía Trung Quốc trắng trợn dùng lực lượng võ trang để cố đạt tới mục đích xâm lấn lãnh thổ. Tại khu vực Trà Mần-Suối Lũng (mốc 136-137) thuộc huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng, năm 1953 Trung Quốc đã cho một số hộ dân Trung Quốc sang xâm cư ở cùng dân của Việt Nam, sau đó, họ tiếp tục đưa dân sang thêm hình thành ba xóm với 16 hộ, 100 nhân khẩu mà họ đặt tên Si Lũng theo tên một làng ở Trung Quốc gần đó. Tuy thế, cho đến năm 1957 phía Trung Quốc vẫn thừa nhận khu vực nầy là đất của Việt Nam. Từ năm 1957 trở đi, họ tiến hành việc dựng trường học, bắc dây truyền thanh đào hố khai thác than chì rồi ngang nhiên cắm cờ biểu thị chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc.
( Quân Trung Quốc ở Lạng Sơn - Ảnh sưu tầm)
Tháng 6 năm 1976, họ đã trắng trợn đưa lực lượng vũ trang đến đóng chốt để đàn áp quần chúng đấu tranh và ngăn cản việc tuần tra của Việt Nam vào khu vực này, chiếm hẳn một vùng đất của Việt Nam trên 3,2 kí-lô-mét, có mỏ than chì.
( Quân Trung Quốc ở Lạng Sơn - Ảnh sưu tầm)
Ở khu vực giữa mốc 2-3 thuộc xã Nậm Chảy, huyện Mường Khương, tỉnh Hoàng Liên Sơn cũng xảy ra tình hình như vậy. Năm 1967-1968, nhiều hộ người Mèo thuộc huyện Mã Quan, tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) chạy sang định cư ở đây. Phía Việt Nam đã yêu cầu phiá Trung Quốc đưa số dân đó trở về Trung Quốc, nhưng họ đã làm ngơ, lại tiếp tục tăng số dân lên đến 36 hộ gồm 152 người, vào vùng nầy thu thuế, phát phiếu vải cho dân, đặt tên cho xóm dân Mèo này là “Sin Sài Thàng”, tên của một bản Trung Quốc ở bên kia biên giới cách khu vực này 3 ki-lô-mét. Mặc dù phía Việt Nam đã nhiều lần kháng nghị, họ vẫn không rút số dân đó đi, trái lại năm 1976 còn đưa lực lượng vũ trang vào đóng chốt chiếm giữ. Nay họ đã lập thêm đường dây điện thoại, loa phóng thanh, dựng trường học, tổ chức đội sản xuất, coi là lãnh thổ Trung Quốc.
9- Đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam (3).
Quần đảo Hoàng Sa (mà Trung Quốc gọi là Tây Sa) cách Đà Nẵng khoãng 120 hải lý về phía đông. Phía Việt Nam có đầy đủ tài liệu để chứng minh rằng quần đảo này, cũng như quần đảo Trường Sa (mà Trung Quốc gọi là Nam Sa) ở phía nam, là lãnh thổ Việt Nam. Từ lâu, nhân dân Việt Nam đã phát hiện và khai thác quần đảo Hoàng Sa; nhà Nguyễn đã chính thức thực hiện chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo đó. Sau khi thiết lập chế độ bảo hộ nước Việt Nam từ giữa thế kỷ XIX, Pháp, nhân danh nước Việt Nam, đã lập trạm khí tượng mà các số liệu được cung cấp liên tục trong mấy chục năm cho Tổ Chức Khí tượng thế giới (OMM) dưới ký hiệu Hoàng Sa (Pattle). Việt Nam đã liên tục thực hiện chủ quyền của mình đối với quần đảo này. Vấn đề chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa là rõ rang và không thể chối cãi được.
(Đảo Woody trong tương lai theo mô hình của TQ)
Nhưng sau khi quân đội Mỹ rút khỏi Việt Nam theo quy định của Hiệp định Pa-ri ngày 27 tháng 1 năm 1973, và nhân lúc nhân dân Việt Nam đang đẩy mạnh cuộc đấu tranh giải phóng miền nam Việt Nam và ngụy quyền miền nam sắp sụp đổ, nhà cầm quyền Bắc Kinh đã trắng trợn dùng lực lượng vũ trang chiếm quần đảo Hoàng Sa.
(Sân bay Thành Sơn và Woody cự ly đến Trường Sa)
Cách họ đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa vẫn là cách họ đã dùng để lấn chiếm đất đai của các nước láng giềng, nhưng với một sự phản bội hèn hạ vì họ luôn luôn khoe khoang là “hậu phương đáng tin cậy của nhân dân Việt Nam anh em”. Đại để sự kiện diễn biến như sau:
Ngày 26 tháng 12 năm 1973, Bộ ngoại giao Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa thông báo cho Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa biết ý định của mình sẽ tiến hành thăm dò dầu lửa trong vịnh Bắc Bộ và đề nghị hai nước tiến hành đàm phán để xác định chính thức biên giới giữa hai nước trong vịnh Bắc Bộ
(Một góc nhìn từ sân bay quân sự Thành Sơn)
Ngày 11 tháng 1 nắm 1974, người phát ngôn Bộ ngoại giao Trung Quốc tuyên bố đảo Tây Sa (tức là Hoàng Sa của Việt Nam), quần đảo Nam Sa (tức là Trường Sa của Việt Nam) là lãnh thổ của Trung Quốc và không cho ai xâm phạm chủ quyền, lãnh thổ của Trung Quốc.
Ngày 18 tháng 1 năm 1974, Chính phủ Trung Quốc trả lời phiá Việt Nam, đại ý nói: đồng ý đề nghị đàm phán về vịnh Bắc Bộ, nhưng không đồng ý cho nước thứ ba vào thăm dò, khai thác vịnh Bắc Bộ, thực tế là họ ngăn cản Việt Nam hợp tác với Nhật-bản, Pháp, Ý trong việc thăm dò, khai thác thềm lục địa Việt Nam trong vịnh Bắc Bộ.
Ngày 19 tháng 1 năm 1974, với một lực lượng lớn hải quân và không quân, Trung Quốc tiến hành đánh quân đội của chính quyền Sài Gòn đóng ở quần đảo Hoàng Sa và họ gọi cuộc hành quân xâm lược quần đảo này là “cuộc phản công tự vệ”.
Từ năm 1973 về trước, phía Trung Quốc đã lấn chiếm, gây khiêu khích ở nhiều nơi trên biên giới Việt-Trung. Từ khi họ đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa, các sự kiện biên giới do họ gây ra, các vụ lấn chiếm đất đai Việt Nam ngày càng tăng:
Năm 1974: 179 vụ.
Năm 1975: 294 vụ.
Năm 1976: 812 vụ.
Năm 1977: 873 vụ.
Năm 1978: 2175 vụ.
TQ sao bọn ngươi làm trò trẻ con thế.
Bình luận của Ban Mai Xanh:
Bài này đọc tham khảo, ai biết rõ hơn về các sự kiện này xin đóng góp thêm, chứ Ban Mai Xanh không dám chắc chắn các sự kiện lịch sử được nói trên là đúng...vì lúc xảy ra mình chưa có mặt trên đời này mà!
và:
Điều 87 Bộ luật hình sự(Trích) :
Phạt tù từ 5 năm đến 15 năm: Gây hằn thù, kỳ thị,chia rẽ dân tộc, xâm phạm quyền bình đẳng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam; Mong rằng những ai đang có tư tưởng phản động bài trừ người Việt gốc Hoa hãy thay đổi !!! Nam Bắc chi tế, Ngã tại kỳ gian, Như hà đối đãi, Tài hảo chi?
Tưởng niệm: 5 năm ngày Trung Quốc bắt chết 9 ngư dân Thanh Hóa ở biển Đông
Danh sách những ngư dân bị tàu Trung Quốc bắn chết trên biển đông:
(08/01/2005 – 08/01/2010)
1. Nguyễn Văn Tùng, 37 tuổi, xã Hoằng Trường, huyện Hoằng Hóa, Thanh Hóa 2. Lê Văn Tuyên, 37 tuổi, thuyền trưởng, xã Hoằng Trường, huyện Hoằng Hóa, Thanh Hóa 3. Nguyễn Xuân Trọng, 27 tuổi, xã Hoằng Trường, huyện Hoằng Hóa, Thanh Hóa 4. Nguyễn Hữu Biên, 27 tuổi, xã Hoằng Trường, huyện Hoằng Hóa, Thanh Hóa 5. Đinh Văn Đông, 20 tuổi, xã Hòa Lộc, huyện Hậu Lộc, Thanh Hóa 6. Nguyễn Văn Trung, 20 tuổi, xã Hòa Lộc, Hậu Lộc, Thanh Hóa 7. Trần Nghiệp Hùng, 39 tuổi, xã Hòa Lộc, Hậu Lộc, Thanh Hóa 8. Phan Văn Dũng, 24 tuổi, chưa xác định được xã, huyện, chỉ biết là người Thanh Hóa 9. Nguyễn Văn Tâm, 27 tuổi, xã Hòa Lộc, Hậu Lộc, Thanh Hóa
Danh sách
Kính thưa những người còn sống Chúng tôi đã chết!
Tôi tên là Nguyễn Văn Tâm, tôi bị bắn trúng ngực, tôi bị bắn trúng tim Tôi chết ngay lúc đó Tôi chết mà không kịp hiểu vì sao
Tôi tên là Dũng Chúng bắn trúng lưng Tôi trượt chân ngã xuống biển Máu tôi chảy suốt nửa giờ Biển lạnh và tối Tôi kiệt sức rồi chìm xuống
Tên tôi là Hồng Tôi trúng đạn vào mắt trái Trổ ra sau gáy Con ngươi rớt ra ướt lầy nhầy trên bàn tay tôi bụm Con ngươi thấy lửa loé ra từ nhiều họng súng
Tôi là Đinh Văn Đông Tôi trúng đạn nhiều lần Vào chân vào bụng vào ngực vào vai vào hàm Ruột tôi đổ ra trên sàn tàu Tôi thở thoi thóp rồi tôi la thét rồi tôi giãy giụa Tôi chưa chết lúc đó Tôi nghe tiếng sóng tiếng gió tiếng loa Nhỏ dần Rồi im bặt
Thưa mọi người tôi là Nguyễn Hữu Biên Đạn chúng bắn xé nát cổ tôi Đạn chúng bắn cắt đứt đầu tôi khỏi thân người
Nguyễn Xuân Trọng là tôi Đầu tôi va vào bánh lái Tôi níu lấy sợi thừng Tôi thấy anh em mình bị tàn sát
Tôi thấy anh em mình la khóc và bị săn giết như những con vật Máu của Đông bắn lên ướt mặt tôi Máu nóng và tanh Tôi không biết lúc nào tôi chết
Tôi tên Tùng Nguyễn Văn Tùng Chúng tấn công khi tôi đang ăn cơm Chén cơm của tôi có cá khô, nước mắm, và rau Chén cơm úp vào mặt tôi Mắt tôi không thấy gì nữa Tôi bị đạn cắt lưỡi Tôi thấy óc mình nóng ướt dính bệt bên màng tang Óc trộn lẫn với cơm
Còn tôi là Lê Văn Xuyên Tôi là thuyền trưởng Chúng tôi ở tỉnh Thanh Hóa Chúng tôi treo cờ tổ quốc và tuân thủ mọi quy định của pháp luật khi hoạt động ngoài khơi Chúng tôi không phải là cướp biển Chúng tôi bắt cá ngoài biển khơi
Mạng TQ: Làm thế nào chống lại chiến tranh du kích trên biển của Việt Nam? ( Theo Trang Ha's blog)
Mạng china.com tháng 12/2009:
Rõ ràng Việt Nam đang áp dụng lý luận chiến tranh nhân dân, chiến tranh du kích do Trung Quốc phát minh và được áp dụng rộng rãi nhất hiện nay, đó là phương châm mười sáu chữ vàng của lối đánh du kích: “địch tiến ta lùi, địch ở ta quấy, địch mệt ta đánh, địch lui ta lùng”. Việt Nam đang phát động nhân dân hành động theo phương châm chiến tranh nhân dân trên diện rộng nhất, đang gặm nhấm dần các đảo trên biển của Trung Quốc, uy hiếp mạnh mẽ lãnh hải và lãnh thổ Trung Quốc, đồng thời đang bắt đầu thách thức Trung Quốc trong việc thu hồi và bảo vệ các đảo trên biển Nam Hải. Trước mắt ta buộc phải nghiêm túc giải quyết vấn đề tìm cách ứng phó ra sao trước tình hình này.
Muốn xong việc tất phải đủ đồ nghề, thiếu mũi khoan cứng chớ làm nghề hàn nồi niêu. Bởi thế nói về biển Nam Hải, cho dù có chiếm lại về ta được xong, thì với vị trí cách xa đất liền như thế, không có chiến hạm lớn cũng khó lòng canh giữ. Việt Nam cũng vậy thôi, thấy khuất mắt trông coi, Việt Nam bèn dùng tiền có được từ khai thác dầu khí các đảo trên biển Nam Hải để định mua sắm số lượng lớn các trang thiết bị vũ khí hòng khống chế các đảo, mua tàu chiến, tàu ngầm của Nga với mục đích gì, rõ ràng là để bảo vệ đảo. Những đảo trên biển Nam Hải nếu Trung Quốc không mạnh tay quản lý, tất có kẻ rắp tâm chiếm hộ. Đừng nghĩ cứ tuyên bố đây là lãnh hải Trung Quốc, thì các nước khác không dòm ngó nữa. Thu hồi các đảo xong, để giữ gìn ổn định chủ quyền trên các đảo, Trung Quốc buộc phải có hàng không mẫu hạm cỡ lớn để bảo vệ. Không thu xếp được như thế thì chớ chọc vào tổ ong bầu, hay đợi đến lúc thua thiệt quyền lợi rồi mới lo đi lắp hàng không mẫu hạm? Biết đâu Việt Nam đã chẳng nhân cơ hội ngon ăn bén mùi, đã mời mọc rước cả Mỹ vào để giúp bảo vệ biển Nam Hải thì sao? Tới lúc đó, sợ Trung Quốc không làm ăn gì được nữa.
Để phá thế trận chiến tranh du kích của Việt Nam trên biển Đông, không thể lại “dạy dỗ” họ theo kiểu cho một trận chiến làm bài học trên đất liền được. Bọn nước nhỏ kiểu như Việt Nam chưa chắc đã coi lời của anh ra gì, mà ta còn phải nghiên cứu chiến lược, lo thiết kế tinh binh với vũ khí, về chiến thuật còn phải nghiên cứu về sách lược kỹ thuật v.v…
Nên như đã nói ở trước, phải dựng được tàu chiến lớn, nhất là hàng không mẫu hạm, không có nó thì sẽ phiền với máy bay các nước nhỏ quanh biển Nam Hải, lúc tác chiến trên biển Nam Hải còn phải lo hải chiến, không chiến, phòng ngự tàu ngầm dưới nước, phòng chống tác chiến ngầm v.v… Tất cả những kế hoạch tác chiến đó đều cần tới hàng không mẫu hạm.
Riêng đối với những tàu cá giả ngư dân của họ, cứ tăng cường tuần tra bắt bớ, bắt nhiều, phạt nặng, cho họ phải khổ sở đáng đời, kiếm chác chẳng đủ để bù đắp thiệt hại. Trung Quốc nên đặt ra luật định để bắt các tàu cá nước ngoài đánh bắt cá gần ranh giới, nếu họ lên đảo ta, bắt họ lại xét xử bỏ tù khoảng dăm năm, phạt số tiền chuộc thật lớn, thì nếu lần sau kể cả chính phủ Việt Nam có sai họ ra biển, họ cũng chẳng dám nữa .
Trung Quốc tái khẳng định có chủ quyền không thể tranh cãi đối với các đảo trên vùng biển Nam Trung Hoa
2010-01-05 1725 cri Theo tin Đài chúng tôi: Trả lời câu hỏi về phản ứng của Trung Quốc về việc Việt Nam mới đây lại một lần nữa chỉ trích Trung Quốc tăng cường phòng thủ trên quần đảo Tây Sa tại cuộc họp báo thường kỳ của Bộ Ngoại giao diễn ra ngày 5, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Khương Du tái khẳng định, Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi đối với các đảo trên vùng biển Nam Trung Hoa, trong đó có quần đảo Tây Sa và Nam Sa.
==========> Đây lộ cái đuôi chó của cái gọi là "Tình hữu nghị Việt Trung" như tờ báo nó từng nói.
Mình vừa comment chửi nó:
Hoang Sa, Truong Sa island belong to Viet Nam. China go out motherland of Vietnam. Down with China, Down with Ho Jintao, Down with Mao Zhedong. Long live Vietnam.
Theo một số nguồn tin cho biết, ngày 28/12 vừa qua Trung Quốc đã lại tiến hành đưa một số sỹ quan trẻ đến quần đảo Hoàng Sa huấn luyện. Được biết toàn bộ số sỹ quan mới đến đây làm nhiệm vụ có tuổi đời còn rất trẻ, độ tuổi trung bình là 26
Như lý giải, do điều kiện sống cũng như giao thông đi lại ra quần đảo Hoàng Sa gặp nhiều khó khăn Trung Quốc sẽ tiến hành thực hiện chế độ 3 năm thay quân một lần tại đây.
Người Trung Quốc đang cố làm cho thế hệ trẻ có tình cảm với mảnh đánh mà họ đã đánh chiếm được
Toàn bộ 48 sỹ quan trẻ sẽ đến đảo lần này để tiến hành tập huấn, học tập, kiến tập và thực hiện một số khoa mục huấn luyện khác trên đảo. Các sỹ quan trẻ này sẽ tiến hành huấn luyện tại đây trong vòng 1 tuần, sau đó trở lại đất liền tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ huấn luyện khác.
Chẳng phải vì điều kiện sống khó khăn, việc thực hiện chế độ "1 tuần phục vụ" chủ yếu là nhằm mục đích có nhiều sỹ quan trẻ được biết đến quần đảo Hoàng Sa, và kết quả là làm cho hình ảnh Hoàng Sa ngấm sâu vào đầu người dân Trung Quốc, bởi quần đảo Hoàng Sa là thuộc chủ quyền của Việt Nam. Trung Quốc đã dùng vũ lực đánh chiếm quần đảo này.
Nơi đây có trạm quan trắc của Việt Nam cung cấp số liệu khoa học cho toàn thế giới, và nó đã hoạt động liên tục từ nhiều năm trước. Chính sách nhồi nhét vào đầu thế hệ trẻ những thông tin sai lệch là một bước đi rất nham hiểm, và sự kiện Trung Quốc đưa binh lính ra quần đảo Hoàng Sa huấn luyện là vi phạm chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam.
Trong thời gian gần đây số dân mạng Trung Quốc tăng nhanh như vũ bão.
Nếu cuối năm 2006 Trung Quốc mới có 137 triệu dân mạng thì đến cuối năm 2008 con số đó đã là 298 triệu và đến tháng 6 năm 2009 dân mạng Trung Quốc đã đạt khoảng 338 triệu người. Dân mạng phần lớn là thanh niên và tráng niên, chỉ cần 10-30% số dân mạng bị huyễn hoặc là đã có từ vài chục triệu người đến trăm triệu người.
Mạng Milchina.com ngày 26/02/09 và Nam phương chu mạt số đặc biệt tháng 02/2009 có một số nhận định sau:
"Hiện nay ngoài 7 đảo (bãi đá ngầm) do Trung Quốc khống chế và đảo Ba Bình (Trung Quốc gọi là Thái Bình, đảo lớn nhất trong quần đảo Trường Sa) do Đài Loan đóng giữ ra, tổng cộng có 42 đảo (bãi đá ngầm) bị các quốc gia khác chiếm đóng.
Đã hình thành cục diện vũ trang cát cứ chiếm đóng quân sự “4 nước 5 bên” và có xu thế kéo dài.
Trong tranh cướp Trường Sa (Nam Sa), Việt Nam thể hiện tích cực hơn, có qui hoạch, đã phân chia lãnh hải Trường Sa thành hơn một trăm vùng đấu thầu dầu khí.
Mấy năm gần đây Việt Nam không ngừng cùng các nước Mỹ, Nga, Pháp, Anh, Đức v.v. không ngừng ký hợp đồng thăm dò dầu khí, ý đồ nhấn mạnh sự chiếm hữu thực tế đối với Trường Sa.
Chỉ nửa đầu năm 2006, Tổng Công ty dầu khí Việt Nam đã khai thác 12,37 triệu tấn dầu khí, trong đó 8,6 triệu tấn dầu thô và 3,765 tỷ m3 khí, xuất khẩu đạt 4,14 tỷ USD.
Các học giả trong nước nói chung cho rằng Việt Nam là đối thủ nguy hiểm nhất và cũng là khó giải quyết nhất trong tranh chấp với Trung Quốc tại Trường Sa.
Một bước đi quan trọng trong việc tranh cướp Trường Sa với Trung Quốc là vào năm 2004, quân đội Việt Nam đã sửa lại một sân bay quân sự cũ trên quần đảo Trường Sa, sân bay này có thể dùng cho máy bay chở khách loại trung và được rêu rao là sẽ sử dụng cho khách du lịch. Trên thực tế Việt Nam là quốc gia duy nhất đề xuất có chủ quyền toàn bộ với quần đảo Trường Sa và cũng là kẻ được lợi lớn nhất trong cuộc tranh giành Trường Sa, có dã tâm lớn nhất, và cũng tạo thành uy hiếp lớn nhất đối với Trung Quốc.
Ở miền tây Trường Sa, Việt Nam đóng 1 tiểu đoàn 600 quân và thiết lập Bộ chỉ huy trên đảo Trường Sa (Nam Uy)
Khu vực chiếm đóng của Việt Nam trên Trường Sa đã hình thành một vùng chuỗi đảo, từ đảo Song Tử Tây (Nam Tử) đến đảo An Bang (An Bà Sa Châu) dài khoảng 230 hải lý, trong đó tại 29 đảo có quân đội đóng giữ.
Có tin, hải quân Việt Nam đang đóng 30-40 chiến hạm, đồng thời chuẩn bị đầu tư 3,8 tỷ USD xây dựng một quân cảng lớn tại vùng Đông bắc, thay thế một loạt rada cảnh giới tầm xa nhằm tăng cường lực giám sát khống chế vùng lãnh hải nam Biển Đông của Trung Quốc.
Ngoài ra Nga còn cung cấp cho Việt Nam kỹ thuật chi tiết sản xuất tên lửa chống hạm tầu tốc độ siêu âm kiểu SS-N-26, đây là loại tên lửa chống hạm tầu tiên tiến nhất của Nga.
Các trang mạng này cũng điểm qua hiện diện của một số bên khác như Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia và Đài Loan tại Biển Đông để rồi kết luận: Trung quốc phải chuẩn bị “mềm rắn cùng thi hành, tiên lễ hậu binh”. Khi lễ không có hiệu quả thì phải dùng binh, nhưng binh không phải chỉ là đánh nhau mà còn chỉ vận dụng sức mạnh tổng hợp của đất nước. Các học giả trong nước nói chung cho rằng Việt Nam là đối thủ nguy hiểm nhất và cũng là khó giải quyết nhất trong tranh chấp với Trung Quốc tại Trường Sa.
Có thể dự đoán, trong tương lai tại Trường Sa, Việt Nam sẽ không ngừng hành động gặm nhấm tài nguyên, củng cố những nơi đã chiếm đóng trong đó ý đồ quốc tế hóa của họ không mất, tình hình quần đảo Trường Sa còn rất phức tạp. Các trang mạng khác
- "Muốn giải quyết vấn đề Nam hải (Biển Đông), Trung Quốc phải đoạt trọn Việt Nam - Việt Nam đừng liều lĩnh. Nam Sa (Trường Sa) chỉ là cái cớ để xuất quân, đoạt được miền Nam Việt Nam mới là việc quan trọng nhất! Hạ được Việt Nam là có thể khống chế được Đông Nam Á" (nguồn Luận đàn 29/07/2008).
- "Việt Nam đáng cảnh giác, trong tranh chấp Nam hải (Biển Đông) tích cực nhất là làm nhiều nói ít” (Trung Quân võng ngày 06/50/09).
- "Việt Nam quyết ý chống Trung Quốc: mua tầu ngầm Nga, tham quan hàng không mẫu hạm Mỹ” (milchina.com ngày 09/05/09).
- "Việt Nam rất tức giận, hậu quả nghiêm trọng! Trung Quốc là chàng câm ăn phải hoàng liên!”(Trung Quân võng ngày 22/05/09)
- "Việt Nam ăn sống Trung Quốc, chuẩn bị chiếm thêm mấy đảo nữa của Trung Quốc” (milchina.com ngày 23/05/09)
- “Thu hồi các đảo bãi đá ngầm bắc quần đảo Nam Sa(Trường Sa), xây dựng nhóm hàng không mẫu hạm không chìm của Trung Quốc (đáng chú ý: bài viết phân tích và đưa ra nhiều số liệu vê vị trí địa lý…của một số đảo trên quần đảo Trường Sa mà Việt Nam, Philippines… đang chiếm giữ)
- “Trung Quốc cứng rắn ra lệnh ngừng đánh cá đã 12 ngày mà không có ai dám trái ý Trung Quốc”, “Chỉ cần Trung Quốc đằng hắng một cái là các nước nhỏ Đông Nam Á sợ ”( Trung Quân võng ngày 25/05/09) - “Tin tức tốt: kế hoạch quân sự của Trung Quốc đả kích Việt Nam đã từng bước thực hiện”(bài viết cho biết đã có lý để ra quân và dự đoán chiến tranh sẽ xảy ra trước sau năm 2013)
- “Hai bờ nhất trí đối ngoại: Chủ quyền Tây Sa (Hoàng Sa) không có việc cho người Việt Nam”( Trung Quốc và Đài Loan nhất trí).
- Ngày 5/7/09, “Hoàn cầu thời báo” Trung Quốc đưa tin: “92% dân mạng Trung Quốc tán thành dùng vũ lực giải quyết vấn đề Nam hải (Biển Đông)”
- Ngày 11 tháng 12 năm 2009, mạng Trung Hoa võng(China.com) đăng hai bài “Chính sách Việt Nam điều chỉnh gấp-Chuẩn bị lực lượng giành lấy Nam hải (Biển Đông) và “Tranh chấp ở Nam Hải (Biển Đông) có xu thế ngày càng phức tạp dùng vũ lực để thu hồi đã thành sự lựa chọn duy nhất” với dã tâm hừng hực và tính toán mọi bề, mũi nhọn dường như muốn chĩa thẳng vào Việt Nam.
* Một câu hỏi không thể không đặt ra sau khi đọc các thông tin trên: sắp tới Trung Quốc có thể làm gì tại Biển Đông?
Tình hình có vẻ ngày càng căng thẳng, các trang mạng TQ bị chính phủ nhồi sọ nhiều nên ngày càng hiếu chiến,VN cần phải hết sức cảnh giác với kiểu nắn gân và tạo dư luận dọn đường cho chiến tranh này.
Trước hết cần phải khẳng định một điều cho rõ, tuy rằng dự án được mang tên "Nhà Chiến Sĩ trên đảo Trường Sa" nhưng thực chất đây là một công trình xây dựng quốc phòng để phòng thủ mang tính kiên cố theo kiểu pháo đài được dự kiến sẽ xây dựng trên đảo Trường Sa Lớn . Dù biện minh như thế nào chăng nữa thì chúng ta cũng phải thừa nhận rằng đây là một dự án xây dựng công trình quân sự rất nhạy cảm, sẽ gặp khó khăn cực lớn một khi các nước đang tranh chấp ở khu vực này biết được, họ sẽ lớn tiếng phản đối và có những biện pháp để đáp trả nếu một khi họ nhận thấy phía VN đang có hành động triển khai xây dựng vì thế một khi nó được công khai tung lên mạng của bọn TQ thì vấn đề bảo mật của ta là rất rất rất có vấn đề, mời các chuyên gia tham khảo và bình luận:
Đây là hình ảnh đảo Trường Sa lớn ở ngoài thực địaVà đây là những chi tiết về: ý đồ xây dựng, ý tưởng thiết kế, yêu cầu đòi hỏi .v.v.
Còn nữa, trong biểu đồ này, có lẽ đây là lần đầu tiên chúng ta được chiêm ngưỡng cái hình dáng đường phân định lãnh hải của VN với TQ trong tương lai, một mối nhục nhớn đang chờ chăng?
Còn nữa, trong biểu đồ này, có lẽ đây là lần đầu tiên chúng ta được chiêm ngưỡng cái hình dáng đường phân định lãnh hải của VN với TQ trong tương lai, một mối nhục nhớn đang chờ chăng?
Sau 1 đêm trằn trọc suy nghĩ em đã nghĩ ra được 1 cách lấy lại lãnh thổ của Việt Nam mà không cần tốn 1 viên đạn nào cả. Hòa bình là chính:
1/ Tăng cường phát triển kinh tế(nhất là chính sách :"người Việt dùng hàng Việt">mình vừa phát triển kinh tế mà không tiêu thụ hàng cho bọn tq)
2/ Tăng cường tiềm lực quốc phòng
3/ Năng cao ý thức cho người dân(không dùng hàng tàu)
4/ Tăng cường sự hợp tác với các nước khác(tranh thủ sự ủng hộ của họ)
5/ Nghiêm cấm buôn bán phụ nữ và trẻ em qua biên giới(tại sao thì nhìn xuống bên dưới)
6/ Đưa mấy anh em đẹp trai của HSO (ít ra là cũng đẹp trai như em đây nè)sang bên tung của lừa hết con gái bên đó về Việt Nam(nếu không đủ chỗ chứa ở Việt Nam thì đem sang bên lào và campuchia để đổi con gái lấy đất)>mấy thằng mắt híp xấu trai của tq sẽ quỳ gối dâng đất +đảo mà nó đã chiếm của Việt Nam chúng ta để trả lại ngay lập tức.Còn nếu không trả thì chỉ còn cách sang thái lan để nó đấm cho bẹp "c..."về mà tự sướng(nghe nói mấy thằng quyền thuật đó thích đánh nhau với mấy thằng tq lắm)
7/ Anh em đề nghị với chính phủ sửa luật ,cho phép chúng ta được lấy nhiều vợ(con nào xấu thì trả+đổi,còn con nào xinh thì giữ lại)
8/ Ai có ý kiến gì hay hơn không
Nếu mà không hợp lý thì em xin đổi lại sau.Bây giờ em chuẩn bị đi lừa tình mấy con tq ở trường em đây.
Con người có suy nghĩ có lương tri. Con người không chỉ ngoan ngoãn phục tùng. Con người không chỉ tin 100% không thắc mắc. Hãy đọc nhiều luồng thông tin khác nhau, nhiều cách nghĩ khác nhau. Hãy so sánh và nhìn vào thực tế.
Đây là 1 câu nói đùa của bác Vũ Thư Hiên khi vừa rồi tôi có dịp gặp tại Đức khi cùng đến tham dự buổi lễ tưởng niệm 20 năm bức tường Berlin sụp đổ. Chỉ là đùa thôi, nhưng tôi thấy buồn thực sự. Vì tôi thấy mọi người không còn quan tâm. Người người từ chối không quan tâm. Nhà nhà đóng cửa không muốn quan tâm. Không còn ai quan tâm.
Việc người dưng.
Việc lớn lao to tát.
Ko phải việc của họ. Cứ để nhà nước lo. Bằng không để người khác lo. không phải họ. Họ không muốn quan tâm.
Quan tâm cái gì?
Quan tâm đến tình hình chính trị đất nước, về Đảng, nhà nước, các chính sách, quyết định, đường lối, những gì đang xảy ra xung quanh, xảy ra trong xã hội này.
Quan tâm đến cuộc sống và những người xung quanh, họ đang sống ra sao, và bản thân cuộc sống chúng ta, có được tự do phát biểu ý kiến và phản đối những điều ta không thích, chúng ta có được tôn trọng hay ko, sức khoẻ và tính mạng của chúng ta có được đảm bảo hay mỗi ngày ra đường đều có cái án treo lơ lửng trên đầu với mối lo sợ về hàng trăm hàng ngàn cách chết khác nhau bởi môi trường và điều kiện sống.
Quan tâm đến vấn đề lãnh thổ và an ninh đất nước, nước ta đang sống có thể tiếp tục tồn tại hay sẽ hoàn toàn biến mất trên bản đồ để trở thành 1 tỉnh của 1 nước lớn (đầy tham vọng bá quyền) chỉ vì sự ích kỷ của những kẻ bán nước và sự hèn hạ khiếp nhược đi đôi với chấp nhận không tranh đấu của những người xung quanh, những người không muốn quan tâm.
Ta là ai?
Ta ở đâu?
Ta mang dòng máu gì?
Ta đến từ đâu?
Ta đang ở đâu?
Ta tồn tại vì cái gì?
Ta sống và chết cho điều gì?
Ta tranh đấu cho điều gì?
Ta muốn gì và mơ ước gì?
Anh bảo đó không phải việc của anh và anh không muốn quan tâm, bảo tôi đừng gửi cái gì cho anh. Anh bảo anh có muốn cũng không làm được gì, nên anh không muốn biết. Anh nói anh không thích chính trị và anh muốn sống cuộc đời phi chính trị. Anh nói anh là người đơn giản không đòi hỏi nhiều và tranh chấp nhận cuộc sống này. Anh nói anh không cần biết điều gì đang diễn ra và là 1 công dân anh muốn tin tưởng tuyệt đối vào ban lãnh đạo trên đất nước anh, rằng họ đều là những người tốt muốn đất nước trở nên khá hơn.
Anh nói anh là 1 người yêu nước, yêu Tổ quốc quê hương và anh yêu cả Đảng và nhà nước. Anh nói có thể anh không biết gì hết nhưng anh không muốn biết và anh hơn tôi vì anh có lòng biết ơn, biết ơn Đảng đã nuôi dưỡng anh trở thành người như ngày hôm nay, anh không phải là kẻ phản phúc như tôi. Và anh không cần biết. không cần quan tâm.
Một nhà nước được lập ra để đại diện cho nhân dân, không phải để ép buộc điều khiển nhân dân, coi nhân dân như con cái và sẵn sàng trừng trị « những đứa con hư không biết vâng lời ». Nhà nước tồn tại nhờ thuế dân đóng, nhân dân có quyền đòi hỏi cho tự do và quyền lợi. Nhân dân không phải là những con bò để nhà nước chăn dắt.
Tôi sinh ra và lớn lên trong xã hội VN không có nghĩa là tôi phải làm 1 con bò chỉ biết nhai lại và vâng lời làm việc không được phản kháng và đòi hỏi. Cái lý luận « Đừng hỏi Tổ quốc đã làm gì cho ta mà hãy hỏi ta đã làm gì cho Tổ quốc » tôi đã nghe qua hàng trăm hàng ngàn lần. Tôi có thể làm gì cho Tổ quốc khi tôi không có tự do phát biểu những góp ý của tôi? Tôi có thể làm gì cho Tổ quốc khi nhà nước hoàn toàn không đếm xỉa tới bản kiến nghị phản đối 1 dự án huỷ hoại toàn bộ đất nước như dự án bauxite và vẫn tiến hành?
Tôi có thể làm gì cho Tổ quốc khi tôi học rồi đi làm, cày lưng đóng thuế nuôi ban lãnh đạo ngày càng giàu có ăn sung mặc sướng, còn những người nghèo khổ ngày càng đói rách vì giá cả liên tục tăng?
Các vị bảo các vị không quan tâm, thế tôi hỏi các vị. Các vị là ai? Các vị đang sống ở đâu? Dòng máu gì đang chảy trong huyết quản các vị?
Đất nước này là của ai? Đất nước này của riêng Đảng và 15 ông trong Bộ chính trị hay của tất cả chúng ta, tất cả những người mang dòng máu Việt sống trong chính VN và ở nhiều nơi khác trên TG?
TQ đã lấy Hoàng Sa, Trường Sa của ta và đi khắp nơi trên TG ta thấy bản đồ lưỡi bò khoanh toàn bộ khu vực biển Đông với chú thích South China sea.
Ngoài biển kia, TQ thản nhiên bắt và cướp bóc ngư dân VN ta ngay trên chính biển ta và đăng trên đài TH chính thức của TQ 1 cách khiêu khích hình ảnh ngư dân ta chắp tay lại trước hải quân TQ. Và nhân dân TQ viết trên tờ báo chính thống rằng 1 nước nhỏ như VN chúng ta lại hung hăng ỷ vào sự nhường nhịn của TQ và muốn ức hiếp, cướp đất TQ hoặc không biết ơn sự giúp đỡ của đàn anh TQ bao lâu nay.
Giữa lòng Tây Nguyên, TQ kéo dân sang tiến hành dự án bauxite huỷ hoại môi trường sống của ta và cuộc sống của nhân dân ta.
À vâng, nghe đến điều này có nhiều người sẽ không tin và đề nghị tôi đưa ra bằng chứng, cứ tìm trong những link tôi đã post bao lâu nay. Tôi chỉ hỏi, tại sao tôi đưa ra những thông tin này các bạn lại không tin và nghi ngờ đòi hỏi bằng chứng xác thực nhưng có thể tin tuyệt đối những gì đã được học trong trường lớp, trên báo chí và truyền hình chính thức của nhà nước không cần nghi vấn? Vì bạn cho rằng nhà nước không thể sai và những gì Đảng nói là chân lý?
Chúng ta là con người. Con người có suy nghĩ có lương tri. Con người không chỉ ngoan ngoãn phục tùng. Con người không chỉ tin 100% không thắc mắc.
Hãy đọc nhiều luồng thông tin khác nhau, nhiều cách nghĩ khác nhau.
Nhiều người bảo không thích chính trị và không muốn quan tâm đến chính trị. Chính trị là gì đó xa vời họ không với đến và không muốn nghĩ đến. Nhưng chính trị là nguồn gốc của mọi thứ trong xã hội. Suy ra tận cùng cái gì cũng là chính trị. Điều kiện sống của bạn, nền giáo dục bạn đang học... rút cuộc cũng thuộc về chế độ, nằm trong chính sách đường lối của chế độ. Ấy là chính trị.
Tôi sinh ra quá trễ để có thể hiểu về chiến tranh và lịch sử. 16 tuổi, tôi có quyền không nghĩ ngợi và cứ tận hưởng cuộc sống như những người 16 tuổi khác, đi học, về nhà làm bài, xem film, nghe nhạc, đọc sách, tán dóc những chuyện bình thường không thuộc chủ đề «nhạy cảm »... Nhưng tôi không thể không quan tâm vì những điều ấy đang xảy ra ngay trong chính đất nước tôi.
Lãnh thổ nước tôi đang bị xâm phạm và nhân dân nước tôi đang bị đàn áp. Tôi không còn sống ở VN nhưng dù tôi có sống ở đâu, mang quốc tịch gì, tên họ gì.. dòng máu Việt vẫn đang chảy trong huyết quản tôi và tôi không thể dứt bỏ. Tôi rời VN vì tôi không thể sống dưới sự cai trị của nhà nước VN, nhưng điều đó không có nghĩa là tôi có thể nói tôi không còn liên hệ đến VN nữa.
Vậy tại sao các bạn, những người VN đang sống ngay trong chính VN có thể vô tình nói các bạn không quan tâm đến an ninh, lãnh thổ đất nước, không quan tâm đến tình hình chính trị, xã hội của đất nước bằng cách nguỵ biện các bạn còn trẻ hoặc bận rộn và đó là việc người lớn hoặc việc lớn lao to tát nhà nước lo không cần các bạn để ý đến?
Vâng, các bạn bảo không quan tâm nhưng đến khi thấy tôi viết vài dòng trái ý, các bạn bắt đầu nhảy vào nói tôi thế này thế nọ và giảng giải tôi nghe giọng điệu trong sgk Sử và GDCD.
Mọi người đều không quan tâm.
Không ai quan tâm.
Tôi đang sống tại Na Uy. Tôi đã ghé qua Pháp, Đức, Tiệp Khắc và Ba Lan. Đã ghé qua cộng đồng người Việt, và nhận ra không hiểu vì lý do gì người Việt e sợ mọi thứ liên quan đến chính trị. Một bộ phận rất lớn sống co cụm trong cộng đồng, tự cung tự cấp, sống trên nước khác không muốn học tiếng, chỉ quanh quẩn trong cộng đồng Việt và nói với nhau bằng tiếng Việt, mua thức ăn Việt, hàng hoá Việt.
Họ không quan tâm đến đất nước họ đang sống và điều duy nhất họ để ý đến là cơm áo gạo tiền, là mưu sinh để tiếp tục tồn tại. Họ tự xây cho mình bức tường và những gì diễn ra bên kia bức tường không phải việc của họ. Nhưng đồng thời họ cũng không quan tâm đến VN. Vì họ đã rời VN. Họ nghĩ họ xem VTV4 và Paris by night, thế đã đủ.
Ngay cả trong nước, những người đang sống giữa xã hội VN và chịu ảnh hưởng trực tiếp từ những mục ruỗng thối nát của VN và đứng trước nguy cơ bị đồng hoá (trong tình huống xấu nhất) còn không quan tâm.
Đừng lạc quan chờ đợi sự can thiệp từ bất kỳ nước nào vì không quốc gia nào sẽ nhúng tay giúp đỡ 1 dân tộc mà bản thân họ còn không quan tâm đến số phận dân tộc họ.
Đừng bảo rằng các ông lãnh đạo đang muốn thay đổi và góp phần xây dựng xã hội khi các ông hoàn toàn lơ phắt bản kiến nghị phản đối dự án bauxite, vẫn chấp bút ký đồng ý tiến hành, và có thể sang Cuba để nói những lời sáo rỗng về việc thay nhau canh giữ hoà bình thế giới nhưng đình chỉ 1 tờ báo vì «tội » khẳng định chú quyền của VN đối với 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, cấm nhân dân biểu tình chống đối TQ, không cho nhân dân nhắc đến với lý do đó là vấn đề « nhạy cảm » và cấm cả việc nhắc đến Hoàng Sa, Trường Sa trên game online.
Đừng tìm kiếm lý do biện minh để trả lời cho xong các câu hỏi của những người như tôi, thay vào đó hãy tìm kiếm giải pháp và đứng lên cho quyền sống, cho tự do và được tôn trọng.
Đừng cam chịu, hãy đấu tranh.
Đừng ngoan ngoãn vâng lời và tin tưởng tuyệt đối không thắc mắc, hãy đọc qua nhiều cách nghĩ khác nhau để so sánh đối chiếu với thực tế và rút ra kết luận của riêng mình. Hãy nghĩ đến việc có rất nhiều người đang đấu tranh dân chủ có nguồn gốc từ trong chính gia đình cộng sản. Hãy nghĩ vì sao họ thay đổi. Hãy nghĩ vì sao rất nhiều người đã rời khỏi nước, trong suốt 34 năm, bằng rất nhiều cách khác nhau...
Tại các nước Đông Âu, họ không thể chịu đựng sự kìm kẹp thiếu tự do, họ đã đứng dậy đấu tranh và quyết định số phận cho dân tộc họ. Nhìn cách họ tưởng niệm ngày bức tường Berlin sụp đổ 1 cách rất trân trọng và xúc động, tôi tự hỏi điều gì đã giết chết khao khát tự do và mong muốn 1 cuộc sống tốt đẹp hơn cho nhân dân VN. Hay cuối cùng 1 nỗi sợ vô hình khiến họ chỉ có thể làm được 1 điều là bỏ đi nước ngoài và không nghĩ đến nữa?
Chúng ta luôn nói với nhau 1 cách tự hào về lòng yêu nước và tinh thần đấu tranh bền bỉ bất khuất, nhưng cuối cùng những gì tôi thấy là những con người vô cảm không quan tâm và nói tôi không cần quan tâm vì VN chẳng cần những người như tôi. (Thế VN cần gì? Cần những con người sống vô tình và phi chính trị? Cần những người ưng rao giảng lý lẽ trong sgk và tìm kiếm lý do nguỵ biện?)
SAN FRANCISCO, California – Ngày 15 tháng 11, 2009, ngày chính thức Meet Việt Nam.
Phó thủ tướng VN Trương Vĩnh Trọng đích thân hướng dẫn Meet Việt Nam, nhằm mục đích giới thiệu Việt Nam và kêu gọi đầu tư thương mại của Hoa Kỳ vào Việt Nam. Một phái đoàn đông đảo từ Việt Nam bao gồm cả nhiều nghệ của đảng VN qua để vận động đầu tư .
So với Việt Expo 1993, Meet Việt Nam 2009 quy mô hơn do guồng máy nhà cầm quyền VN chính thức đứng ra tổ chức tại thành phố San Francisco trong hai ngày 15 và 16 tháng 9, 2009.
San Francisco là một thành phố lớn của Hoa Kỳ, nằm trên bờ Thái Bình Dương, nhưng có ít người Việt tại đây. Cộng đồng Việt Nam tại miền Bắc California tập trung đông đảo ở San Jose và các thành phố phụ cận, và sau đó là các thành phố Sacramento, Oakland, Stockton,… Chính vì vậy, việc VN chọn tổ chức Meet Việt Nam tại San Francisco cũng nhằm gây khó khăn cho Cộng đồng Việt đến đây biểu tình phản kháng, vì phải di chuyển khá xa; Tuy vậy, cũng đã có gần 1 ngàn người đã đến từ các nơi thật xa như Nam California, Sacramento, San Jose để hỗ trợ cộng đồng người Việt tại San Francisco tổ chức phản đối Meet Việt Nam.
Sáng thứ bảy, số người biểu tình bằng những chuyến xe bus từ nhiều nơi đổ về tòa thị chánh San Francisco và họ chờ ở đó vài tiếng đồng hồ. Những biểu ngữ được giăng lên và chờ đợi đến lúc ra quân.
Phải nói rằng việc tổ chức biểu tình thật là khó. Nhiều nơi phải thuê xe bus để đưa người đi biểu tình vì thành phố San Francisco xa xôi, địa điểm khó tìm và chỗ đậu xe hết sức khó khăn, và xe bus sẽ phải lên đường về vào lúc 4 giờ chiều, trong lúc Meet Vietnam họp từ lúc 6 giờ chiều đến tối. Chính vì thế, khi xe bus chở một số người về thì số người đi xe riêng sẽ tiếp tục ở lại cho đến 9 giờ tối, giữa lúc thời tiết San Francisco rất lạnh và đầy gió.
Khi những chiếc xe bus chở người của phái đoàn Meet Việt Nam đến tòa thị chánh, thì đó là cao điểm của cuộc biều tình. Gần cả ngàn người phất cờ vàng và hô vang hàng chục khẩu hiệu khác nhau như “VC Go Home”, “VC bán nước cho Trung Cộng”. “Down with communists”,… và những khẩu hiệu được giương cao như “Meet Vietnam oppressed people”, “No human rights, No trade”, “Meet Vietnam: No democracy, All Lies”, “Communist Evils”, “Meet Vietnam: All corruption, all Lies”,…
Những tiếng hô vang dội đã diễn ra liên tục khi phái đoàn Meet Vietnam xuống xe bus và bước vào bên trong tòa thị chánh.
Thỉnh thoảng có một số người bước ra khỏi các hàng rào cản của cảnh sát có dòng chữ “SF PD – Police line, do not cross” thì cảnh sát yêu cầu phải bước vào khu quy định dành cho người biểu tình.
Sau khi phái đoàn Meet Vietnam bước vào bên trong tòa thị chánh thì không khí náo nhiệt của cuộc biểu tình xuống dần và nhiều người bắt đầu ra về.
Một số ký giả Hoa Kỳ đến gặp những người biểu tình để phỏng vấn, và một số đã giải thích vì sao họ phản đối phái đoàn Meet Vietnam. Chắc rằng trên các trang báo Anh ngữ sẽ có những bài viết và hình ảnh biểu tình của ngày hôm nay.
Theo nhiều người tham dự cả hai cuộc biểu tình Viet Expo năm nào và Meet Vietnam năm nay, thì tuy cuộc biểu tình năm nay không quy mô như lần trước, thế nhưng con số người tham dự biểu tình năm nay là lớn và thành công ngoài dự tính, gây được tiếng vang.
Trần Việt Phương tường trình từ San Francisco.
Trong nước : các cuộc biểu tình chống Trung Quốc về HT-TS.
Bản ghi âm cuộc gọi của Com và HCĐào. Thời gian: không xác định. [Tuyệt mật] Com: Alo, anh không bảo chú phải xin lỗi, nhưng nếu muốn xin lỗi thì làm cái gì cho đáng mặt chủ tạch chút chớ. Đào: E biết thế, nhưng mà độ này kinh phí làm nhái thuyền thúng của bọn em tốn kém quá nên em biếu tạm anh xài con Peace Ark này, anh thông cảm.
Com: mẹ đời chú ngu thế, thuyền thúng cứ sang VN mà mua anh lấy lãi gấp đôi thôi. Chú con tàu ghẻ của chú không ăn thua, với lại hàng của chú lởm anh vốn không thích xài, nghe đồ made in khưa thì anh chán lắm. Đào: đùa anh, dân em xài đồ chine mãi vẫn chưa chết hết kia kìa, anh lo gì. Tụi em bẩn thì bẩn thật nhưng hàng biếu anh thì đâu dám lơ mơ, anh cứ xài tạm con PA kia có gì em biếu thêm anh mà.
Com: mày lằng nhằng ông oánh sập Bắc Kinh bi chừ, câm mồm và đổi ngay, không tí sang hội đàm anh cắt trim mày trc quảng trường thì đừng trách. Từ vụ thằng Đặng lùn chưa sợ à?
Đào: Vâng em bít rùi em đổi ngay ạ, tí nữa em rút quân khỏi Hải Nam ngay như anh đã dặn, em chào anh. Com: uh xéo... tút..tút... (cái tiếng trung chó nghe ngứa tai quá).
Ngày...tháng...năm. Đã kí.. roẹt roẹt...
(Hoangsa.org)
Hải quân Trung Quốc đưa tàu bệnh viện “Peace Ark” tới Hoàng Sa và Trường Sa
VIT - Ngày 16/11, trang tin quân sự Trung Quốc cho biết, lực lượng Hải quân Trung Quốc đã điều động tàu bệnh viện “Peace Ark” (số hiệu 866) cỡ lớn cùng các trang thiết bị y tế hiện đại để tuần hành tới quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong thời gian 32 ngày. Theo các nguồn tin cho biết, bắt đầu từ ngày 20/10/2009, tàu bệnh viện này đã xuất phát từ cảng Wusong, Thượng Hải. Theo chương trình hoạt động trong 32 ngày, tàu “Peace Ark” tuần hành với quãng đường biển khoảng 5000 hải lý và cập vào 18 đảo, trong đó có đảo Ocean Island phía đông bắc tỉnh Liêu Ninh của Trung Quốc và một số đảo khác thuộc quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa mà Trung Quốc đã chiếm đóng của Việt Nam.
Trên boong tàu bệnh viện 866 (ảnh Chinamil)
Trong thời gian tuần hành, tàu 866 thực hiện các chương trình y tế cho các sỹ quan và binh lính của Hải quân, các nhân viên an ninh và cảnh sát biển, các nhân viên của lực lượng tuần tra Ngư trường và ngư dân Trung Quốc đồn trú trên quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.
Phòng điều trị trên tàu bệnh viện 866 (ảnh chinamil)
Peace Ark là loại tàu hỗ trợ y tế thế hệ mới có chức năng hoạt động độc lập trên biển tương đương một bệnh viện hiện đại của Trung Quốc, tàu được trang bị nhiều thiết bị y tế hiện đại cùng đội ngũ Y và Bác sỹ có trình độ cao.
Trực thăng trên sàn tàu bệnh viện 866 (ảnh Chinamil)
Kể từ tháng 10/2009, lực lượng Hải quân Trung Quốc đã gia tăng các hoạt động trên biển Đông, tổ chức nhiều các cuộc diễn tập quân sự cùng với sự tham gia của các tàu ngầm, chiến hạm và Không quân hạm. Việc Hải quân Trung Quốc đưa tàu bệnh viện số 866 tới Trường Sa và Hoàng Sa là vi phạm vào chủ quyền của Việt Nam.
Mọi hoạt động của Trung Quốc trên khu vực hai quần đảo này khi không được phép của Việt Nam đều bị coi là bất hợp pháp, là không tôn trọng luật pháp quốc tế. Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
Nhiều tàu cá Trung Quốc cũng đã có những hành động xâm phạm chủ quyền lãnh hải của Việt Nam. Lực lượng Biên phòng Việt Nam cũng đã kịp thời ngăn chặn mọi hành động vi phạm, giữ gìn an ninh chủ quyền biển đảo của Tổ quốc. Ngày 11/11, báo "Người Lao Động" cho biết: vào hồi 9 giờ ngày 10-11 tại toạ độ 16 độ 58 phút độ Vĩ Bắc – 107 độ 45 phút độ Kinh Đông (cách bờ biển Thuận An 24 hải lý về hướng Đông Bắc) 17 tàu đánh cá của Trung Quốc đã xâm phạm chủ quyền vùng biển Việt Nam. Hải đội 2 thuộc BTL Biên phòng Việt Nam đã truy đuổi 16 tàu Trung Quốc nói trên ra khỏi hải phận Việt Nam, bắt giữ lập biên bản cảnh cáo rồi phóng thích một tàu đánh cá Trung Quốc mang số hiệu 14062 (trên tàu có 13 ngư dân đều mang quốc tịch Trung Quốc).
Ngày 16/11 tại Hà Nội, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam, bà Nguyễn Phương Nga đã ra tuyên bố phản đối việc Chính quyền tỉnh Hải Nam (Trung Quốc), ngày 8/11, đã ra quyết định thành lập Ủy ban thôn đảo Vĩnh Hưng và Triệu Thuật, tức đảo Phú Lâm và Đảo Cây thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.
Những hành động lấn át của chính quyền Trung Quốc nói trên đã vi phạm nghiêm trọng chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam, không phù hợp với nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao hai nước, không có lợi cho tiến trình đàm phán tìm kiếm biện pháp cơ bản, lâu dài cho vấn đề trên biển giữa hai bên.
Ngay sau thông tin việc Công ty Chicilon Media (Trung Quốc) đăng quảng cáo trên trang 24h (www.24h.com.vn) với bản đồ Việt Nam không có 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Bauxite Việt Nam cũng nhận được e-mail từ bạn đọc thảng thốt cấp báo: “Khẩn, khẩn… nguy, nguy… thôi chết Bauxite Việt Nam ơi! Cái công ty Chicilon Media gì đó không chỉ không cho hiện Hoàng Sa và Trường Sa trên trang mạng 24h mà còn không cho hiện 2 quần đảo của Việt Nam trên màn hình quảng cáo đặt trong các chuyến xe buýt ở TPHCM”.
Trang web chính thức của Chicilon Media với 3 ngôn ngữ Việt, Trung và Anh.
Các đối tác của Chicilon Media.
May mà còn Phú Quốc…
Quan sát trên một số tuyến xe buýt có màn hình LCD từ đường Ba Tháng Hai ra chợ Bến Thành, rồi từ Bến Thành về Chợ Lớn vào sáng 13/11, chúng tôi ghi nhận đoạn video hình hiệu của Công ty Chicilon Media với động tác camera lướt dọc theo bản đồ Việt Nam từ Bắc xuống Nam, đúng là phần Biển Đông rộng mở “trống huơ, trống hoác”. Xem thật kỹ, thì khi camera dừng lại ở điểm cực Nam của Tổ quốc, huyện đảo Phú Quốc hiện lên rõ nét. Đây chính là điều làm không ít người trong chúng ta khi xem mẫu quảng cáo về một công ty Trung Quốc này không khỏi chột dạ. Nói như kiểu bác miền Trung đi cùng xe chúng tôi: “Cũng may hắn còn vẽ cho cái Phú Quốc. Nhưng cũng lạ hì, răng chỉ có Phú Quốc?”.
Tất cả các màn hình LCD đều có niêm 1 tấm đề-can màu vàng ghi rõ tên và số điện thoại dạng “hotline” của Chicilon Media. Khi gọi vào số máy này, nhân viên ở đây cho biết hiện tại công ty đã có hệ thống LCD trên 129 tuyến xe buýt tại TPHCM, Hà Nội, Đà Nẳng và Nha Trang. Tổng số lượng xe buýt đã lắp dặt là 2.000 chiếc với 2.200 màn hình các loại, chiếm 85% thị phần.
Trang web của công ty tuyên bố hùng hồn: “Hệ thống màn hình LCD của chúng tôi đã phủ rộng các sân bay, cao ốc văn phòng, khu căn hộ cao cấp, ngân hàng, bệnh viện, hệ thống công cộng gồm bến xe, bến phà, tàu cao tốc, ga xe lửa, khách sạn, siêu thị, nhà hàng… ở các thành phố lớn như Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng”. Thế nhưng, khi chúng tôi đề cập việc ký kết quảng cáo thì nhân viên công ty “thú thực” là ngoài các tuyến xe buýt ra, hiện Chicilon Media chỉ mới có thêm hệ thống màn hình quảng cáo “phủ sóng” toàn bộ cụm siêu thị Citimart.
Theo “đầu mối” này, chiều cùng ngày, chúng tôi có mặt tại một siêu thị Citimart trên đường Nguyễn Trãi (Q.1, TPHCM). Những gì chứng kiến trên xe buýt được lặp lại đúng từng khung hình trong siêu thị, có khác chăng là LCD ở siêu thị to đẹp hơn, hình ảnh thì sắc nét hơn, lại có thể đứng xem ở mọi ngóc ngách.
Ảnh chụp trong siêu thị Citimart, đường Nguyễn Trãi (Q.1, TPHCM)(1)
Ảnh chụp trong siêu thị Citimart, đường Nguyễn Trãi (Q.1, TPHCM)(2)
Vài “ẩn số” về Chicilon Media
Công ty CP Quảng cáo truyền thông Thiên Hy Long Việt Nam (tên giao dịch Chicilon Media) được thành lập tháng 9/2006, với tổng vốn điều lệ trên 800.000 USD, tổng số vốn đầu tư trên 8.000.000 USD. Lĩnh vực kinh doanh chính của công ty là quảng cáo truyền thông qua hệ thống màn hình LCD và hệ thống panô (poster frame) trong nhà. Theo lời công ty này, mỗi ngày, có khoảng 5.000.000 lượt người xem các chương trình trên hệ thống của họ. Họ khẳng định: “Đây chính là kênh truyền thông mới mang lại hiệu quả truyền đạt cao, phạm vi quảng bá rộng tại Việt Nam” (?). Được biết, ngày 08/01/2008, công ty nhận được khoản đầu tư 5.000.000 USD từ Quỹ đầu tư DFJ VinaCapital (Mỹ). Chính sự đầu tư hợp tác này, đã góp phần thúc đẩy tiến độ mở rộng hệ thống màn hình quảng cáo LCD và poster frame, là cơ sở cho việc phát triển Chicilon Media trở thành một công ty chuyên về quảng cáo truyền thông trên LCD lớn nhất tại Việt Nam (?). Cũng theo Chicilon Media, hiện nay công ty đã chiếm lĩnh độc quyền việc khai thác quảng cáo LCD trên các tuyến xe buýt của TPHCM và Hà Nội.
Chúng tôi gọi là “ẩn số”, vì tất cả những chi tiết vừa nêu ở trên đều là những thông tin mà “người ta muốn cho mình biết”. Tất cả đều có trên website www.chicilonmedia.com.vn của công ty này. Cái gì thật sự là Chicilon Media và Chicilon Media thật sự muốn gì thì hoàn toàn đúng là ẩn số! Trong danh sách 5 thành viên hội đồng quản trị công ty này thì có những 3 người Trung Quốc, 2 người còn lại theo chúng tôi chắc cũng đâu đó “Chinatown” bên xứ Mỹ? Đặc biệt, vị chủ tịch hội đồng quản trị Guo Zhi Feng “nghe đâu” từng đảm nhiệm chức vụ Trợ lý Bộ trưởng Bộ Tài Chính nước CHND Trung Hoa?
Trông thấy chúng tôi cứ đứng nhìn các màn hình LCD trong siêu thị, vài cô nhân viên tưởng muốn mua LCD nên có lòng tốt hướng dẫn chúng tôi lên tầng trên. Khi biết chúng tôi chỉ muốn xem video quảng cáo, mấy cô phì cười. Còn trong e-mail cho chúng tôi, độc giả nọ tâm sự: “Tôi đã thấy chuyện này xảy ra lâu rồi khi đi trên xe buýt, nhưng không để ý chuyện kinh thiên động địa này. Nhìn lại, tôi cũng thấy mình hờ hững quá!”
Chắc là không phải riêng anh. Bên cạnh tuyên truyền kiểu “thâm nho, hán đế” trên các phương tiện truyền thông thương mại, thì liệu pháp “truyền thông vô cảm”, “truyền thông ru ngủ”, “truyền thông ngoại giao” của phe ta như truyền liều nước biển êm ái khiến chuyện và bệnh “kinh thiên động địa” kia của cả đất nước gần 90 triệu dân mà chỉ có vài ba nhóm trí thức, chính khách và còn lại là ngoại bang “thảo luận”.
Q. Ngọc
Hội đồng quản trị Công ty CP Quảng cáo truyền thông Thiên Hy Long Việt Nam (Chicilon Media)
Trụ sở chính: phòng 1601, cao ốc Sai Gon Trade Center số 37 Tôn Đức Thắng, Q.1,TPHCM. Chi Nhánh: phòng 1806, tòa nhà số 101 Láng Hạ, Đống Đa, Hà Nội.
Ông GUO ZHI FENG, Chủ tịch Hội Đồng Quản trị kiêm Tổng Giám Đốc, là người sáng lập Chicilon Media.
Ông GUO ZHI FENG đã từng làm trong ngành thuế 8 năm, sau được điều đến Bộ Tài Chính, đảm nhiệm chức vụ Trợ lý Bộ trưởng, sau là Phó Tổng Giám Đốc quản lý các công ty do Bộ tài chính đầu tư. Ông cũng từng đảm nhiệm chức vụ Tổng Giám đốc Công ty Đầu Tư Công Nghệ Kỹ Thuật của Thành Phố Zhang Qiu trong 6 năm. Với kinh nghiệm hoạch định chiến lược kinh doanh và năng lực quản lý lãnh đạo doanh nghiệp, ông đã dẫn dắt các doanh nghiệp đạt được những thành tích đáng kể.
Vào năm 2000, Trung Quốc tiến hành một số cải cách kinh tế, Ông đã thành lập công ty thương mại và công ty in phun quảng cáo tại nhiều nước như Việt Nam, Bangladesh, Malaysia, Thái Lan, Campuchia, Triều Tiên…. Với hơn 10 năm kinh nghiệm trong việc điều hành các công ty tại nhiều quốc gia trên thế giới, Ông có hiểu biết sâu sắc về thị trường các nước khu vực Nam Á, đặc biệt là Việt Nam.
Ông GUO ZHI FENG tốt nghiệp chuyên ngành Tài chính Học viện hành chính Sơn Đông năm 1985 và tốt nghiệp chuyên ngành Quản trị kinh doanh của Học viện Kinh tế Sơn Đông năm 1996.
ÔNG MENG QING FENG – thành viên HĐQT
Ông MENG QING FENG, thành viên Hội Đồng Quản Trị, Giám Đốc Kinh Doanh Miền Nam.
Ông MENG QING FENG từng là Tổng Giám Đốc Công ty TNHH In Phun Quảng Cáo Thiên Hy Long tại Bangladesh, hiện nay đảm nhiệm chức vụ Giám Đốc Kinh Doanh Miền Nam của Chicilon Media.
Ông tốt nghiệp Đại học Sơn Đông, khoa Thương mại Quốc tế chuyên ngành Tiếng Anh, đồng thời được cấp bằng Emba-Marketing của Đại học Canada.
BÀ LI ZHAO JUAN – thành viên HĐQT
Bà LI ZHAO JUAN, thành viên Hội Đồng Quản Trị, Giám Đốc Khai thác Dự án.
Bà LI ZHAO JUAN từng đảm nhiệm Phó Tổng Giám Đốc Công Ty TNHH Xe Moto FADA Tế Nam. Sau đó Bà đến Việt Nam tham gia sáng lập Công Ty TNHH In Phun Quảng Cáo Thiên Hy Long Việt Nam, đồng thời đảm nhiệm chức vụ Tổng Giám Đốc trong suốt 8 năm.
Trong suốt quá trình sống và làm việc tại Việt Nam, Bà hiểu khá rõ về văn hóa, kinh tế, quy định hành chính của Việt Nam và đã tích lũy kinh nghiệm phong phú về cách quản lý điều hành cũng như những kiến thức về văn hóa và các thuần phong mỹ tục của Việt Nam.
Bà LI ZHAO JUAN tốt nghiệp khoa Quản trị kinh doanh Học viện Kinh tế Sơn Đông.
ÔNG ANDY HO – thành viên HĐQT
Ông ANDY HO, thành viên Hội Đồng Quản Trị, Giám Đốc Điều hành Quỹ đầu tư DFJ VinaCapital.
Ông ANDY HO từng là Tổng Giám Đốc công ty PRUBF, sau khi nhận chức đã hoạch định chiến lược kinh doanh hiệu quả, đưa lợi nhuận của PRUBF tăng lên gấp 4 lần trong vòng 18 tháng. Trong lĩnh vực đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam, Andy Ho hiện đang quản lý số vốn đầu tư khoảng 50.000.000 USD. Ông cũng từng nắm giữ nhiều vị trí quản chủ chốt tại Tập đoàn Ernst & Young, Quỹ Đầu Tư Mạo Hiểm của Tập Đoàn DELL …
ANDY HO tốt nghiệp MBA tại the Massachusetts Institute of Technology, CPA tại Mỹ và BS tại the University of Colorado in Boulder.
ÔNG QUANG NGUYEN – thành viên HĐQT
Ông Quang Nguyen, thành viên Hội Đồng Quản trị, Giám đốc Quỹ đầu tư DFJ VinaCapital.
Ông Quang Nguyen là một trong những thành viên sáng lập công ty Vinaconsulting. Ông là một chuyên gia về hệ thống CNTT và ERT. Trước đây Ông là Giám Đốc Dịch vụ tư vấn tại PricewaterhouseCoopers Indochina. Ông từng nắm giữ nhiều vị trí tư vấn cao cấp tại PA Consulting, McKinsey & Co., IBM và Ernst & Young, ở Hoa Kỳ và Singapore…
Quang Nguyen tốt nghiệp MBA tại Florida Atlantic University, BSEE tại UC San Diego.
Theo website Chicilon Media
Bình luận của Ban Mai Xanh:
Thật sự mà nói, tối ngày ăn rồ cứ Hoàng Sa Trường Sa rồi lại đến Bô xít thì nhảm ... chán thấy mịa.. Có bao giờ chúng ta đi nói chuyện với một con trâu chăng?
Tất cả mọi người chúng ta đều có sự hiểu biết của riêng mình, ngu hay dại là do ở mỗi con người, nhưng chẳng ai dại mà đi nói xấu chính mình...Thôi thì xã hội như thế, có nói cũng thế thôi, trâu vẫn là trâu, nói ngàn năm cũng chẳng thành bò hay thành người cả, tuỳ suy nghĩ và ý thức của mọi người thôi, Ban Mai Xanh đã nản cái vụ vừa moi móc vừa bịt mũi từ bộ máy chính trị của ta lắm rồi...
Khôn thì sống, còn dại thì cứ chết đi cho xã hội rãnh việc...
Sự kiện Hạ viện Indonesia sửa đổi Luật Thủy Sản, cho phép tàu tuần tra được bắn và đánh chìm tàu cá nước ngòai đánh bắt hải sản trái phép trong vùng biển của Indonesia, đã gặp phải phản ứng của một số quốc gia trong khu vực.
Tuy nhiên, hành động của chính phủ Indonesia mặt khác cho thấy sự cứng rắn, không khoan nhượng của nước này trong việc bảo vệ quyền lợi, chủ quyền của mình trên Biển Đông.
Khánh An tìm hiểu và so sánh phản ứng của một số nước trong khu vực và Việt Nam trong vấn đề khẳng định chủ quyền của mình.
Bài học về tinh thần dân tộc
Có thể nói, Indonesia và Philippines là hai nước ít nhượng bộ Trung Quốc nhất trong vấn đề tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông. Chỉ một tuần trước khi Bộ luật sửa đổi của Indonesia được thông qua, tàu chiến của Indonesia đã nã đạn vào một tàu đánh cá Trung Quốc, khiến cho một thủy thủ chết và hai người khác trên tàu bị thương. Trước đó không lâu, đã xảy ra vụ bắt giữ ngư dân Trung Quốc lớn nhất từ trước đến giờ từ phía chính phủ Indonesia, với 8 tàu đánh cả và 75 ngư dân, khiến cho chính quyền Bắc Kinh phải chính thức lên tiếng đòi trả tự do cho những ngư dân này. Phía Indonesia khẳng định các tàu này họat động trong khu đặc quyền kinh tế của Indonesia trên Biển Đông trong khi Trung Quốc liên tục bảo rằng đó là “khu vực đánh cá truyền thống” của nước này.
Ngay sau khi vụ bắt giữ xảy ra, phía Trung Quốc đã lập tức tổ chức họp báo bác bỏ những tin tức mà phía Indonesia đưa ra, đồng thời gửi kháng thư khẩn cấp đến chính phủ Indonesia. Phát ngôn viên Bộ Ngọai giao Trung Quốc lên tiếng rằng “chúng tôi rất không hài lòng với chính quyền Indonesia” và “đòi hỏi chính quyền Indonesia thả ngay lập tức các ngư phủ và trả lại các thuyền đánh cá”.
Trong khi đó, ở cùng thời điểm, 37 ngư dân của Việt Nam lại bị phía Trung Quốc bắt giữ khi đang đánh cá ở khu vực biển thuộc quần đảo Hòang Sa của Việt Nam, nhưng phía Bộ Ngọai giao Việt Nam chỉ gửi công hàm “yêu cầu phía Trung Quốc thả ngay các ngư dân và các tàu cá” sau khi có rất nhiều phản ánh từ phía các cơ quan truyền thông và người dân trong ngòai nước.
Chính phủ Việt Nam luôn khẳng định chủ trương giải quyết các bất đồng thông qua thương lượng hòa bình. Tuy nhiên, thái độ và phản ứng của chính phủ Việt Nam trong nhiều tình huống đã không mang lại hiệu quả thực tế. Ông Dương Văn Thọ, chủ tàu đánh cá mang số hiệu QNg 6597 TS, có lần cho phóng viên Trân Văn biết:
“Tôi thường gặp Hồng Kông, Đài Loan hay Nhật Bản cũng đều làm ở quần đảo Hoàng Sa nhưng mà mình chưa nghe bắt các nước ấy. Bắt Việt Nam không à! Nó lạ kỳ!”
Việt Nam nhượng bộ đến mức độ khó hiểu
Giáo sư Ngô Vĩnh Long chuyên về các vấn đề Á Châu tại Đại Học Maine (Hoa Kỳ) khi trả lời phỏng vấn với biên tập viên Thanh Quang, đã nhận xét rằng những “yêu cầu”, “đề nghị” của Việt Nam đối với những hành động lấn lướt của Trung Quốc là không thích hợp. Ông nói:
“Đây là cơ hội rất tốt cho Việt Nam để đem vấn đề này ra trước công luận thế giới, trước Liên Hiệp Quốc, mà bây giờ Việt Nam đang là thành viên của Hội Đồng Bảo An, cho nên nếu Việt Nam đưa vấn đề này ra thế giới thì Trung Quốc sẽ bị kẹt. Đây là một cơ hội để Việt Nam phản công, vậy mà Hà Nội lại phản ứng bằng cách đề nghị Trung Quốc đừng bắt ngư dân, đề nghị thế này đề nghị thế kia, mà là những đề nghị không ra gì cả.”
Ngay trong vụ Trung Quốc tự ý ra lệnh cấm đánh bắt cá ngay trong vùng lãnh hải của Việt Nam từ thời điểm 16/5 đến 1/8 vừa qua cũng khiến cho dư luận phẫn nộ, nhất là sau khi phía Trung Quốc bác bỏ đề nghị của Việt Nam muốn Trung Quốc bãi bỏ lệnh cấm đánh bắt cá hằng năm. Người phát ngôn của Bộ Ngọai giao Trung Quốc, ông Tần Cương, còn thẳng thắn tuyên bố đây là vấn đề “không thể tranh cãi”. Sự kiện này khiến giới quan sát nhắc lại một tình huống tương tự xảy ra cách đây 10 năm đối với Philippines. Khi đó, Trung Quốc cũng ra lệnh cấm ngư dân Philippines đánh bắt cá trên Biển Đông trong vòng 2 tháng.
Ngay lập tức, chính phủ Philippines đã lên tiếng phản đối và nói rằng lệnh cấm hòan toàn không có hiệu lực đối với ngư dân Philippines. Bộ trưởng quốc phòng Philippines lúc đó đã nhấn mạnh rằng “chúng tôi đang đánh bắt cá trong vùng lãnh hải của chúng tôi. Họ (Trung Quốc) mới chính là người xâm phạm lãnh thổ của chúng tôi”.
Riêng về vấn đề tranh chấp chủ quyền ở quần đảo Trường Sa trong thời gian gần đây, Philippines luôn tỏ một thái độ khá cứng rắn đối với Trung Quốc và các quốc gia liên quan. Nước này đã thông qua một đạo luật khẳng định chủ quyền một phần thuộc Trường Sa vào hồi tháng 3. Sau đó, Philippines liên tục đầu tư nâng cấp các cơ sở hạ tầng quân sự trên 9 đảo thuộc Trường Sa mà nước này chiếm đóng, trong đó bao gồm cả việc xây dựng một sân bay quân sự.
Trong lịch sử, Philippines cũng có nhiều “thành tích” trong việc đuổi bắt tàu cá Trung Quốc, thậm chí theo lời của các quan chức Trung Quốc, Philippines đã tấn công và đâm vào tàu ngư dân Trung Quốc. Tuy nhiên, các quan chức Philippines luôn quả quyết đó chỉ là tai nạn và tai nạn ấy sẽ không xảy ra nếu các ngư dân Trung Quốc không xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế của Philippines.
Âm mưu bá chủ của Trung Quốc
Tờ “Nhật báo Đông Á” của Hàn Quốc nhận định, các tàu đánh cá Trung Quốc đang “càn quét” tất cả các vùng biển, gây ra tranh chấp khu vực và làm cạn kiệt nguồn tài nguyên biển.
Việt Nam là một trong những nạn nhân đầu tiên cho tham vọng Trung Quốc chỉ vì cái “thế” địa chính trị của mình. Chính vì vậy, nhận định về những đối pháp mà Việt Nam có thể làm để giải quyết tranh chấp Biển Đông, Giáo sư Ngô Vĩnh Long cho rằng:
“Bây giờ nếu Việt Nam không khéo thì như tôi đã nói nhiều lần, Việt Nam cũng giống như một tuýp thuốc đánh răng, Trung Quốc sẽ ép từ biên giới phía Bắc xuống, Biển Đông sang, nó bóp Việt Nam bây giờ anh có phọt ra Phú Quốc thì nó cũng không tha, giống như là nó ép Tưởng Giới Thách ngày xưa chạy ra Đài Loan rồi bây giờ nó cũng không tha, thành ra Đài Loan phải nhờ cậy mấy nước khác mới có thể giữ được.
An ninh Biển Đông là an ninh cho cả khu vực Đông Nam Á, vì thế phần lớn những nước trong khu vực đối với họ an ninh trên Biển Đông là vấn đề rất quan trọng. Nếu Việt Nam biết kéo sự đồng tình của các nước trong khu vực và ngoài khu vực như Mỹ và các nước khác, thì có thể không những bảo đảm vấn đề an ninh Biển Đông mà bảo đảm cả tương lai của đất nước việt Nam.”
Trở lại với sự kiện Indonesia sửa đổi Bộ Luật Thủy sản, mặc dù đây là một đạo luật gây nhiều phản ứng mạnh mẽ từ các quốc gia láng giềng nhưng xét về một khía cạnh nào đó, nó là một hành động tiêu biểu cho thấy câu trả lời rõ ràng, dứt khoát của nước này trước những hành vi xâm lăng của kẻ xâm phạm.
Việc Quốc vụ Viện Trung Quốc phê chuẩn việc thành lập thành phố hành chính Tam Sa thuộc tỉnh Hải Nam trực tiếp quản lý ba quần đảo trên biển Đông, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam vào đầu tháng 12 năm 2007 là một bước tiến mới trong tham vọng mở rộng “miền Đông Hải” của Trung Quốc.
Để phục vụ cho tham vọng kể trên, các học giả Trung Hoa đã góp phần không nhỏ như nhà nghiên cứu Phạm Hoàng Quân đã nhiều lần chỉ ra [1]. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi hòa cùng ý tưởng với nhà nghiên cứu Phạm Hoàng Quân nhưng ở một khía cạnh khác: Biển Đông và hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa được thể hiện qua các bản đồ của phương Tây từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX.
1. Từ Cauchinchina cho đến IndoChina:
1.1 Cauchinchina – Cochinchine
Theo Aurousseau, nguyên Giám đốc Trường Viễn Đông Bác cổ (École Francaise d’Extrême Orient), thì Việt Nam từ xa xưa không được người Bồ Đào Nha hoặc người châu Âu biết đến một cách trực tiếp (trước năm 1515), do đó sự hiểu biết tên nước lại phải được người Arab giới thiệu với phương Tây. Ông chứng minh rằng chữ Cochinchina là do từ chữ Bồ Đào Nha Quachymchyna, mà chữ này lại bắt nguồn từ chữ Arab “Kawci-min-cin”. Theo đó thì “Kawci” là chữ Arab tương đương với chữ “Kiao-tche” là tiếng Hán chỉ nước Việt Nam thời đó [交趾支那-Giao Chỉ China]. Còn từ ngữ “min-cin” có nghĩa là thuộc Trung Hoa. Nhưng Aurousseau đã không đưa ra được một bằng chứng cụ thể nào về tên Cochinchina bắt nguồn từ chữ Giao Chỉ. Hơn nữa, ông đã không có một bản đồ chính xác nào để hỗ trợ cho giả thuyết của ông.
Nhìn vào địa danh, Cochinchina có hai phần là Cochin và China.
Chữ China thì không thành vấn đề, vì nó được dùng để chỉ định một địa phương đã được biết rõ (Trung Hoa). Còn chữ Cochin thì đã đưa đến nhiều giải thích khác nhau.
Vì có điểm giống nhau giữa cách đánh vần chữ Chanocochin là danh từ chỉ một tên trên bờ biển Malabar Coast của Ấn Độ, nơi mà mgười Bồ Đào Nha đã biết đến từ thế kỷ thứ XV như Colchi, Cocym, hay Cochin, ta có thể đoán là các nhà vẽ bản đồ phương Tây đã mượn những từ ngữ trên. Và sự tiếp xúc trực tiếp giữa phương Tây và Việt Nam sau này đã dẫn đến sự thay đổi từ ngữ đó.
Trên bản đồ của Ribeiro năm 1529, người ta đã cố gắng chuyển tên Cửu Chân trong tiếng Việt sang ngôn ngữ phương Tây, Ribeiro gọi vịnh Bắc kỳ (Golfe du Tonkin) là Cauchechina. Cửu Chân là một trong chín quận được thiết lập bởi vua Hiếu Vũ năm 111 trước công nguyên. Danh từ này được đọc là Cẩu Chân theo tiếng Quảng Đông. Biên giới của Cửu Chân được thay đổi theo thời gian, nhưng tên gọi đó không thay đổi cho tới năm 1407 . Đó là tên độc nhất của một khu vực hành chánh lớn ở Việt Nam đã được biết đến suốt 15 thế kỷ.
Kể từ năm 1529 từ ngữ Cauchechina bắt đầu xuất hiện thường xuyên. Nó được thấy trên bản đồ của Gastaldi, Ortolio, Homen và Luis dưới dạng Gauchi, Cauchy, hay Cauchin. Cho tới năm 1565 ta thấy có dấu hiệu trở lại cách viết ban đầu khi Berteli dùng chữ Cochinchina cho bản đồ của ông. Trong nhiều thập niên hai tên kể trên xuất hiện thường xuyên, có khi đứng cạnh nhau cùng trên một bản đồ. Mãi tới thế kỷ XVII thì từ ngữ Cochinchina mới vĩnh viễn thay thế địa danh Cauchinchina [2].
Bản đồ 1:
Gerard Mercator (1512 – 1594), India Orientalis, Amsterdam, H. Hondius, circa 1606, Koeman, Atlantes Neerlandici, Vol I, 8400:1A
Cũng có một giả thiết khác về nguồn gốc từ Cochinchine, theo đó, Cochin là một cảng thương mại lớn ở Ấn Độ, quốc gia có vùng đất Pondichéry lọt vào tay người Pháp từ thế kỷ XVII. Vào thời kỳ này, các thương nhân phương Tây có dịp đi qua Đàng Trong, thấy vùng này có nhiều nét giống với thương cảng Cochin của Ấn Độ nên đặt tên là Cochinchina (vùng đất Cochin nằm cạnh Trung Hoa -China).
Hoặc, từ thế kỷ XIII, các nước đã theo Marco Polo gọi tên nước Đại Việt là Caugigu (phiên âm từ Giao Chỉ quốc), sau đọc trại thành Kiaoche rồi Coci (cách gọi của Bồ Đào Nha). Sau đó để khỏi lầm với Cochin của Ấn Độ, người ta thêm chữ China hay Cina, nên Cauchinchina trở thành tên của nước Đại Việt. Đến thời Trịnh-Nguyễn phân tranh, người ta mới gọi Đàng Ngoài là Tunking hay Tonkin (từ chữ Đông Kinh-Hà Nội ngày nay) và Đàng Trong vẫn giữ tên Cauchinchina hay Cochinchine như người Pháp đã gọi.
Chúng ta biết rằng, Giao Chỉ không còn được sử dụng như một địa danh quan trọng ngay trong giai đọan đầu của lịch sử Việt Nam; Cửu Chân (Chiu Chen) trái lại được dùng cho tới khi người phương Tây đến. Hơn nữa cách đánh vần tên cho thấy có sự liên hệ giữa Cửu Chân và Cochin (Cochin/china).
Nhận định trên phù hợp với tài liệu sau đây: “Tùy theo từng thời kỳ lịch sử của nước Việt, lãnh thổ của quận (hay bộ) Cửu Chân ngày xưa có những biên giới khác nhau. Riêng tỉnh Thanh Hóa ngày nay thì luôn được xem là phần lãnh thổ chính của vùng Cửu Chân. Người Malaysia phiên âm tên Cửu Chân thành Kuchi. Sau đó, để phân biệt với vùng Kuchi của Ấn Độ (India), các nhà hàng hải và thương nhân Bồ Đào Nha đã thêm vào chữ China, vì vương quốc này nằm cạnh China. Đồng thời họ phiên âm Kuchi China thành CauchiChina.
Sau người Bồ Đào Nha, các nhà hàng hải và thương nhân từ Hà Lan và một số nước khác bắt đầu lui tới, giao thương với các quốc gia trong vùng Đông Nam Á.Theo thời gian, Cauchi China lại được phiên âm thành Cochin China. Tên vương quốc Cochin China bắt đầu xuất hiện trên các tài liệu tây phương trong những thập niên đầu của thế kỷ 16” [3].
1.2 IndoChina
Vào thế kỷ XVII-XVIII, khi nói đến vùng Đông Nam Á, người Pháp thường dùng tên gọi Ngoại Ấn (Inde extérieure) hay Ấn Độ bên kia sông Hằng (Inde au-delà du Gange), còn người Anh thì gọi là Ultra-Ganges India.
Tên gọi Đông Dương (IndoChine) xuất hiện lần đầu tiên dưới ngòi bút của Conrad Malte Bruun (1775-1826) trong bộ sách Địa lý toán học, hình thể và chính trị của các nơi trên thế giới, xuất bản năm 1804. Trong tập 12 của bộ sách này có nói đến các nước IndoChine hay vương quốc Tonquin, Cochinchine, Lào…
Bốn năm sau, tên gọi IndoChine lại xuất hiện trong một bài báo của John Leyden (1775-1811) trên tạp chí Nghiên cứu châu Á của Hội châu Á vùng Bengal, xuất bản tại Calcutta năm 1808.
Về phương diện địa lý và văn hóa, Đông Nam Á lục địa nằm giữa hai nước lớn, và giữa hai nền văn hóa xuất phát từ hai nước đó là Trung Hoa và Ấn Độ. Đây là hai cái nôi văn hóa lớn của Châu Á và khu vực Đông Nam Á lục địa nằm giữa hai cái nôi văn hóa lớn đó. Địa danh đúng của khu vực này là IndoChina (Ấn-Trung) hay Indochinese Peninsula (Bán đảo Ấn Trung), nghĩa là vùng bán đảo nằm giữa Ấn Độ và Trung Hoa. Nhưng vì người Pháp đã dùng chữ Indochina (mà người Việt thường dịch là Đông Dương) thu hẹp để chỉ ba nước Việt Nam, Cambodia, Lào, dưới sự đô hộ của họ thành ra các nhà văn hóa học đã không dùng lại địa danh này cho cả vùng mà phải dùng chữ Đông Nam Á để tránh lầm lẫn. Thời xưa người ta còn gọi vùng này là “Golden Peninsula” (Bán Đảo Hoàng Kim) và bao gồm các nước Myanmar, Thái Lan, Lào, Cambodia, và Việt Nam, không có Malaysia trong đó, vì Malaysia được xem là thuộc về khu vực hải đảo.
Các nước nằm trong khu vực Bán đảo Hoàng Kim hay Bán đảo Ấn Trung này đều ít nhiều chịu ảnh hưởng của một trong hai nền văn hóa lớn ở đây là Ấn Độ và Trung Hoa. Theo nhiều nhà văn hóa học phương Tây thì các nước Myanmar,Thái Lan, Lào và Cambodia nhận ảnh hưởng Ấn Độ trong khi Việt Nam nhận ảnh hưởng Trung Hoa nhiều hơn. Các nước chịu ảnh hưởng Ấn Độ thường được gọi là “Indianized States”(các nước Ấn Hóa).
Bản đồ 2:
Trong bán đảo Đông Dương đã từng tồn tại Đông Dương thuộc Pháp, là các nước thuộc địa của Pháp, gồm Annam (Trung kỳ), Cochinchine (Nam kỳ), Tonkin (Bắc kỳ) (cả ba thuộc Việt Nam), Lào và Cambodia. Đôi khi người ta cũng dùng Đông Dương thuộc Anh để chỉ thuộc địa cũ của Anh tại Đông Dương, tức Myanmar vào thời kỳ đó.
Như vậy, từ Cauchinchina, Cochinchina cho đến Indochina xuất phát từ đâu cho đến nay vẫn còn tranh cãi về mặt học thuật. Đó là nhiệm vụ của các nhà Địa danh học. Nhưng có một điều cần khẳng định rằng, những địa danh đó trong lịch sử Trung, Cận đại Việt Nam không phải thuộc lãnh thổ Trung Quốc lúc bấy giờ.
2. Baixos de Chapar-Pracel Islands – Spratly Islands
2.1 Trong số những bản đồ hải hành thực hiện bởi các nhà hàng hải phương Tây có những bản đồ đáng chú như sau:
- Năm 1606, Jodocus Hondius vẽ hai nhóm đảo Hoàng Sa và Trường Sa như một cái cờ đuôi nheo uốn quanh Đại Việt và Champa, cái đuôi dính liền với các đảo vùng Phan Thiết.
- Năm 1630, Cloppenburg vẽ hai nhóm Hoàng Sa và Trường Sa chạy dài từ khoảng ngoài khơi cửa sông Gianh kéo phần đuôi quần đảo vào sát vào khu bờ biển ngoài khơi Phan Rang.
- Năm 1650, Merian vẽ hai nhóm quần đảo riêng rẽ có tính cách tượng trưng: Hoàng Sa ngang vùng biển Đà Nẵng, Trường Sa ngang vùng biển Cam Ranh.
- Năm 1664, Thevenot vẽ hai nhóm Hoàng Sa và Trường Sa với cái đuôi chỉ tới vùng ngoài khơi Nha Trang.
- Năm 1719, Chatelin vẽ hai nhóm Hoàng Sa và Trường Sa dính liền nhau, rất lớn và rất sát với bờ biển miền Trung, có chỗ chỉ cách đất liền khoảng 10-15 hải lý.
Vào thế kỷ XV-XVI, trong số các nước phương Tây, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha là hai nước phát triển sớm nhất. Và Bồ Đào Nha là nước phương Tây đầu tiên bành trướng thế lực sang phương Đông. Nhưng vào cuối thế kỷ XVI, Bồ Đào Nha phải nhường bước cho Hà Lan ở phương Đông.
Hà Lan là một nước có nền công thương nghiệp phát triển sớm và sau cuộc cách mạng vào cuối thế kỷ XVI, Hà Lan đã trở thành nước tư bản chủ nghĩa đầu tiên, vượt qua Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, chiếm địa vị thứ nhất trong nền thương mại thế giới vào thế kỷ XVII. Công Ty Đông Ấn Hà (Companie Hollandaise des Indes Orientales) thành lập vào năm 1602 là công cụ để Hà Lan phát triển sang châu Á. Trong hồ sơ lưu trữ về bản đồ về Đông Duơng đầu tiên (Carte de la peninsula Indochinoise) được ấn hành vào năm 1595 do nhà địa lý gốc Hà Lan Frère Van Langren thực hiện, và cũng lần đầu tiên quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam đã xuất hiện trên bản đồ này với cái tên Hà Lan là Paracels (có nghĩa là đá ngầm) [4].
Bản đồ Đông Dương của Frère Van Langren đã mở đường cho thương nhân Hà Lan vào Đông Dương, mà trước hết là vào Việt Nam. Ở thế kỷ XVII, Hà Lan đã đến buôn bán và lập một số thương điếm ở Việt Nam, trong đó có Hội An (Faifo) thuộc tỉnh Quảng Nam. Quần đảo Hoàng Sa đã gắn liền với câu chuyện đắm tàu của Hà Lan trong lịch sử vào năm 1634. Nguyên là vào ngày 20/1/1634, có 3 chiếc tàu buôn của Công ty Đông Ấn Hà có tên là Veenhuisen, Schagen và Grootebroek, đồng khởi hành từ Batavia để đến Formose. Sáng ngày 21/7/1634, ba chiếc tàu nói trên đã đến khu vực biển của Việt Nam, tại khu vực quần đảo Hoàng Sa, thì gặp phải một trận bão lớn. Chiếc Veenhuisen đã vượt qua được và đến Formose vào ngày 2/8/1634, và chiếc Schagen cũng thoát hiểm để đến Formose vào ngày 10/8/1634.
Chỉ riêng có chiếc Grootebroek là không vượt qua được trận bão biển, nên đã bị chìm gần khu vực quần đảo Hoàng Sa, ngang với bắc vĩ tuyến 17. Theo tập Ký sự Batavia (Journal de Batavia) của Công ty Đông Ấn Hà năm 1635, đã cho biết chiếc Grootebroek đã bị chìm hẳn và 9 thủy thủ đã biệt tích. Thuyền trưởng Huijch và 62 thủy thủ khác thoát được, và họ đã cứu hơn phân nửa số hàng trị giá 82.995 Florins (tiền Hà Lan) trong tổng số hàng trị giá 153.600 Florins. Sau cơn bão, Thuyền trưởng Huijch và 12 thủy thủ đi thuyền nhỏ vào đất liền để nhờ chính quyền địa phương của xứ Đàng Trong cho thuyền lớn ra cứu 50 thủy thủ còn lại đang ẩn núp tại quần đảo Hoàng Sa để tránh bão.
2.2 Xem xét một số bản đồ có địa danh Baixos de Chapar-Pracel – Spratly
Bản đồ 3:
Đây là tấm bản đồ màu, in năm 1613 trong quyển Atlat Mercator Hondius (1563-1612) vẽ trước năm 1606, từ dữ kiện của nhà địa dư học Bồ Đào Nha Bartolomeu Lasso vào đầu thế kỷ XVI.
Bản đồ này được trình bày bằng tiếng La tinh có tên là Insulae Indiae Orientalis, ghi rõ vùng biển Đông Nam Á, từ đảo Sumatra phía Tây tới New Guinea và cả đảo Guam phía cực Đông (trong một chuỗi đảo được mệnh danh là “quần đảo thổ phỉ-Islas de Las Vellas), và đảo Timor gần Australia phía Nam lên tới đảo Hải Nam phía Bắc.
Bản đồ 4:
Trên góc cao (giữa) bản đồ (khu vực Việt Nam ngày nay), có ghi là đất “Cauchin, có tên Cauchinchina”
Trên bản đồ này ghi rất rõ ràng ngoài khơi xứ Cauchichina một vùng quần đảo có nhiều bãi cát nông chạy dài xuống hướng Tây Nam, được ghi là Pracel.
Đối diện với quần đảo, trên lãnh thổ Cauchinchina được viền màu vàng, là tên Costa de Pracel. “Costa de Pracel” không có liên hệ gì với đảo Hải Nam (được tô màu hồng với tên là Ainan).
Xem bản đồ khu vực Đông Nam Á do Jean Baptiste Nolin (1686-1762) hoàn thành năm 1687. Trong bản đồ này, Nolin đã đánh dấu vùng quần đảo giữa biển Đông được ghi rõ là “Baixos de Chapar de Pulls Scir” nằm ở dưới vị trí ghi là “Golfe de la CochinChine”. Điều này có nghĩa là “bãi cát của Champa” nằm dưới vị trí của “Vịnh Cochinchine”.
Bản đồ 5:
Một phần bản đồ khu vực Đông Nam Á do Jean Baptiste Nolin hoàn thành năm 1687.Khu vực quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa được ghi chú là Baixos de Chapar de Pulls Scir nằm dưới Golfe de la Cochin Chine (Nguồn: Bản đồ ký hiệu C.C. 1144.A lưu trữ tại Thư viện quốc gia Bồ Đào Nha).
Spratly là họ của một người Anh, Thuyền trưởng chiếc tàu săn cá voi Cyrus. Ông tên Richard Spratly, người phương Tây đầu tiên đặt chân lên hòn đảo này vào năm 1843 [5].
Thật ra Richard Spratly không phải là người đầu tiên khám phá ra Spratly Islands. Trước đó khoảng gần 40 năm, vào năm 1807, khi được cử sang vương quốc CochinChina để khảo sát quần đảo Pracel (bao gồm Paracel Islands và Spratly Islands), thuyền trưởng Ross đã đến triều kiến vua Gia Long và trình lên vị hoàng đế này một lá thư giới thiệu của công ty Đông Ấn. Nội dung lá thư có liên quan đến việc xin phép khảo sát quần đảo Pracel và bờ biển của nước này. Daniel Ross hoàn tất cuộc khảo sát và đo đạc vùng biển phía Nam của Trung Hoa năm 1807, quần đảo Pracel năm 1808, một phần bờ biển CochinChina năm 1809, và vùng đảo Palawan của Philippines năm 1810.
Daniel Ross đã đặt tên cho Spratly Islands là Dangerous Ground (Vùng đất nguy hiểm), được xem như phần phía Nam của quần đảo Pracel (hay Paracel) trên bản hải đồ ấn hành năm 1821. Sau đó, trong một phiên bản của tấm hải đồ ấn hành năm 1859, tên Dangerous Ground được đổi lại là Storm Island (Đảo Bảo tố). Ngày nay, cả hai tên thỉnh thoảng vẫn còn được nhắc đến nhưng không phổ biến như tên Spratly Islands. Như vậy, đối với giới hàng hải tây phương Tây, đến năm 1843, quần đảo Pracel được chính thức tách ra thành Paracel Islands và Spratly Islands.
Như vậy, đối với các nhà hàng hải phương Tây, mãi đến khoảng giữa thế kỷ XIX thì quần đảo Pracel nằm trong khoảng từ vĩ độ 12 độ Bắc đến 16 độ Bắc mới chính thức được tách ra thành Paracel Islands (Hoàng Sa) và Spratly Islands (Trường Sa) như ngày nay.
Bên cạnh đó, dưới triều của vua Minh Mạng, vào năm 1838, Phan Huy Chú, một nhân viên của bộ Công đã khảo sát, vẽ, và xuất bản một bản đồ gọi là “Đại Nam nhất thống toàn đồ”. Bản đồ này đã phân chia Bãi cát vàng, thành hai quần đảo riêng biệt gọi là Hoàng Sa và Vạn Lý Trường Sa, mà sau này gọi gọn lại là Trường Sa.
Nhìn qua những những bản đồ khu vực biển Đông của Việt Nam từ thế kỷ XVI – XIX, bất cứ ai cũng rõ ràng nhận ra ngay là hai quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa thuộc về lãnh thổ Việt Nam và không thể thuộc về bất cứ một quốc gia nào khác. Điều này có nghĩa là trước cả khi Lê Quý Đôn soạn sách Phủ biên tạp lục thì Hoàng Sa-Trường Sa đã thuộc về Việt Nam từ lâu.
Chú thích:
[1]. Xem:
- Phạm Hoàng Quân, Tây Sa và Nam Sa trong sử liệu Trung Quốc
[2]. Cochinchina: Reassessment of the Origin and Use of a Westernized Place Name by Dinh D. Vu, Ph.D. [Vietnamese translation by Dr. Hoang Xuan Chinh] Meadows Place Texas, 2000.
[3]. Nguyễn Đại Việt-Trịnh Bảo Ngọc, Hoàng Sa và Trường Sa trên Bản đồ Tây Phương
[4]. Xem Les Portugois sur les côtes du Vietnam et du capa của Peirre Y, Manguin, đăng trong BEFEO năm 1972, trang 74. Nhưng theo Dictionnarire de Bibligographie generale ancienne et moderne de l’Indochine Francaise của Giáo sư A Brébion, ấn hành vào năm 1935, thì Paracels là tên một chiếc tàu của Công ty Đông Ấn Hà Lan (theo nguồn tài liệu sưu khảo của học giả Thái Văn Kiễm công bố trên tập san Sử Địa số 29, Sàigòn, 3-1975).