BlogBMX.Tk: Trang thong tin, giai tri va binh luan (News, Entertainment and Comment Channel)

phongsuhoangsatobgiaosuyngambaochiblogsacndalyahookinhdicanhgiacmaidamtreem 1suthathcmnhatkionlinetanvanttblogtruyenngaaanphapluatktelsngquochoiahdantoctimconc
Diem den Blog BanMaiXanh chi can go: BlogBMX.Tk

Bài liên quan:

235 - Trang wed chính phủ Nam Đàn: Công bố thân phận mới của Hồ Chí Minh

173 - Viết từ "sự thật Hồ Chí Minh"

http://www.cand.com.vn/vi-VN/binhluan/2009/9/119412.cand

Người xem tự hỏi: Nếu đã gọi là “sự thật”, thì tại sao ông “linh mục” Nguyễn Hữu Lễ lại không dám đưa vào phim, hình ảnh hàng nghìn người, kiên nhẫn xếp hàng giữa mùa hè nắng gắt, hay những cơn gió bấc lạnh tím da, chỉ để được vào Lăng, viếng Người.

Trong cuốn “Ho Chi Minh, a life – Hồ Chí Minh – một cuộc đời), Giáo sư Williams J. Duke, viết: “Khi tin tức về cái chết của ông Hồ Chí Minh được loan ra, Hà Nội nhận 22 nghìn bức điện chia buồn từ 121 quốc gia trên thế giới. Nhiều nước tổ chức truy điệu, và ca ngợi ông Hồ Chí Minh như người lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc xuất sắc, người con vĩ đại của dân tộc Việt Nam anh hùng, là hiện thân của lòng khát vọng tự do, của sự đấu tranh bền bỉ. Ông là gương mẫu cho đức tính giản dị, là người bảo vệ cho những người bị áp bức…”.

Một nửa ổ bánh mì mãi mãi vẫn là bánh mì, nhưng một nửa sự thật thì không bao giờ là sự thật. Lần sau, nếu vẫn còn muốn làm phim về “sự thật”, có lẽ ông Nguyễn Hữu Lễ nên tìm hiểu thêm về những “sự thật” – chẳng hạn như Giáo sư Duke vừa trình bày, kẻo thiên hạ lại bảo ông “lừa mà không biết đường… bịp!”

[1] DVD Sự thật về Hồ Chí Minh do Phong Trào Đòi lại Tên Sài Gòn vừa phát hành vào tháng 6.2009

DVD Sự Thật Về Hồ Chí Minh:

1/ http://www.youtube.com/watch?v=JWtO9w4Q-oo


2/
http://www.youtube.com/watch?v=U3RukmBDhAM


3/
http://www.youtube.com/watch?v=EKjIXPrAeTc


4/
http://www.youtube.com/watch?v=YQD8b8-3i5w


5/
http://www.youtube.com/watch?v=tDXYYW8T06k


6/
http://www.youtube.com/watch?v=rd0bV7e-eJo


7/
http://www.youtube.com/watch?v=0uIbsyMjgjs


8/
http://www.youtube.com/watch?v=CRWqVpTCdoQ


9/
http://www.youtube.com/watch?v=GRcCwg09osA


10/

http://www.youtube.com/watch?v=Q8THYuVTCk0


11/
http://www.youtube.com/watch?v=eZKyAyieNxc

http://www.megaupload.com/?d=9BRTXMC3
http://www.megaupload.com/?d=U0DMVYBX
http://www.megaupload.com/?d=TU8U6IQ1
http://www.megaupload.com/?d=B8TV9L8A
http://www.megaupload.com/?d=TIM4AM3T
http://www.megaupload.com/?d=FQOJJND1
http://www.megaupload.com/?d=GAQ0I353
http://www.megaupload.com/?d=Z33VR9BJ
http://www.megaupload.com/?d=DE80HNFV
http://www.megaupload.com/?d=APERF18Y
http://www.megaupload.com/?d=32GDLRYX
http://www.megaupload.com/?d=1Y8PP0MI
http://www.megaupload.com/?d=I1EVEHQW
http://www.megaupload.com/?d=F73DHTNN
http://www.megaupload.com/?d=K33LY8ZQ
http://www.megaupload.com/?d=7C79YLVU
http://www.megaupload.com/?d=2OZ3HSCJ
http://www.megaupload.com/?d=QO9KEP6T
http://www.megaupload.com/?d=FUEPENUH
http://www.megaupload.com/?d=2RK540UB

LINK FULL:

http://a2.video1.blip.tv/0170000088434/BB23531-MtThtHChMinh249.flv

Mississippi Jones Act Injuries
Mississippi Jones Act Injuries Counter

www.bigoo.wswww.bigoo.wswww.bigoo.wswww.bigoo.wswww.bigoo.wswww.bigoo.wswww.bigoo.wswww.bigoo.wswww.bigoo.wswww.bigoo.ws


28 CommentsChronological   Reverse   Threaded
banmaixanhsblog wrote on Nov 15, '09
Ban Mai Xanh bị điên người rồi...............mịa nó,nói năng gì lung tung...
laodochanh wrote on Nov 15, '09
Nếu đã không là sự thật thì sợ gì mà không dám cho nó lưu hành công khai để người dân chứng kiến cái sự thật nào là chân chính...? Cứ khơi khơi chửi người ta phản động, chống phá.... nhưng không dám đối chất... thì sự thật nào mới là sự thật...? Bởi người dân cần sự minh bạch, chứ đã quá chán nghe tuyên truyền... Đừng nghĩ hàng ngàn người vào lăng viếng rồi cho là tất cả họ đều một ý nghĩ như nhau... Lão cho là số đông vì tò mò là chính.
banmaixanhsblog wrote on Nov 15, '09
Nếu đã không là sự thật thì sợ gì mà không dám cho nó lưu hành công khai để người dân chứng kiến cái sự thật nào là chân chính...? Cứ khơi khơi chửi người ta phản động, chống phá.... nhưng không dám đối chất... thì sự thật nào mới là sự thật...? Bởi người dân cần sự minh bạch, chứ đã quá chán nghe tuyên truyền... Đừng nghĩ hàng ngàn người vào lăng viếng rồi cho là tất cả họ đều một ý nghĩ như nhau... Lão cho là số đông vì tò mò là chính.
Ban Mai Xanh không có ý đăng cái video này, nhưng trang wed của Nam Đàn nói về HCm nên BMX tổng hợp lại thôi, cái này BMX không có ý kiến gì cả, có chẳng là bài viết": Viết từ sự thật Hồ Chí Minh (của BMX mà thôi!)
quanviahe wrote on Nov 15, '09
Cây kim dấu trong quần rồi cũng có ngày lòi ra thôi,CSVN bưng bít được bao lâu,70 năm cộng sãn liên xô nó đổ cái rụp,CSVN bây giờ " sống được ngày nào hay ngày ấy" nó như một bệnh ung thư chưa tới hồi tái phát thôi.
Tám Xị
banmaixanhsblog wrote on Nov 16, '09
Nếu đã không là sự thật thì sợ gì mà không dám cho nó lưu hành công khai để người dân chứng kiến cái sự thật nào là chân chính...? Cứ khơi khơi chửi người ta phản động, chống phá.... nhưng không dám đối chất... thì sự thật nào mới là sự thật...? Bởi người dân cần sự minh bạch, chứ đã quá chán nghe tuyên truyền... Đừng nghĩ hàng ngàn người vào lăng viếng rồi cho là tất cả họ đều một ý nghĩ như nhau... Lão cho là số đông vì tò mò là chính.
Mà không thể như thế dc bạn à! mọi người không hiểu rõ lịch sử, xem là nhằm ngay thôi!
nguyen208 wrote on Nov 18, '09, edited on Nov 18, '09

Nếu thừa nhận là "nữa sự thật còn lại"... thì cái tên của cuốn DVD là SỰ THẬT về HỒ CHÍ MINH là Sai! Nữa sự thật chẳng có ai gọi là sự thật cả! Thế có phải Lm. Lễ và các thành viên làm nên cuôn DVD ấy cũng làm công việc lừa gạt người như Cộng Sản không?
Người bị lừa mãi là dân đen quê mùa, ít học, và nhẹ dạ hùa theo!
Ôi đau đớn thay dân Việt của tôi!
nguyen208 wrote on Nov 18, '09
Ông “linh mục” Nguyễn Hữu Lễ và đĩa DVD xuyên tạc lịch sử, sự thật
13:50:00 13/09/2009
Những ngày vừa qua, trên một số tờ báo và trên các trang web của các tổ chức người Việt cực đoan, chống Cộng ở nước ngoài, đã làm rùm beng về một đĩa DVD có tên "Sự thật về Hồ Chí Minh", do ông "linh mục" Nguyễn Hữu Lễ chế tác!
Được lắp ghép từ nhiều đoạn phim tư liệu trong, ngoài nước về Chủ tịch Hồ Chí Minh - và đã được trình chiếu công khai trên màn ảnh, trên các đài truyền hình, DVD "Sự thật về Hồ Chí Minh" là một xuyên tạc nhơ nhớp của Nguyễn Hữu Lễ.

Sự ra đời của DVD “Sự thật về Hồ Chí Minh”

Một sáng trung tuần tháng 7/2009, tại nhà hàng Sea Food Paracelle, thành phố Westminster, miền Nam bang California, Mỹ, người đi đường khá ngạc nhiên khi nhìn thấy những lá cờ ba sọc bay phất phơ, cùng với một băngrôn in đậm hàng chữ "Lễ ra mắt DVD Sự thật về Hồ Chí Minh", do ông "linh mục" Nguyễn Hữu Lễ thực hiện.

Khoan chưa nói đến kỹ xảo lắp ghép những đoạn phim tài liệu do các nhà quay phim trong, ngoài nước, thu hình Chủ tịch Hồ Chí Minh dưới nhiều góc độ khác nhau, và đã nhiều lần trình chiếu công khai trên màn ảnh, cũng như trên vô tuyến truyền hình của nhiều quốc gia trên thế giới - được Nguyễn Hữu Lễ lồng vào đó những lời bình với nội dung xuyên tạc lịch sử, xuyên tạc sự thật, mà điều đầu tiên chúng tôi muốn đề cập, rằng buổi ra mắt DVD ấy, chỉ nhằm một mục đích: Đó là tiền!

Thật vậy, trong phần phát biểu về nguyên nhân cũng như quá trình thực hiện DVD, ông "linh mục" Nguyễn Hữu Lễ béo tốt, hồng hào, trong bộ áo chùng đen, đã không ngớt kể lể về những khó khăn mà ông ta đã gặp phải, rồi cuối cùng ông kết luận: "Tốn kém trên 200 nghìn USD, có lúc phải nhờ vả, vay mượn của những vị Mạnh Thường Quân chỉ để nhằm nói lên... sự thật (?!)". Lời phát biểu "xạo sự" ấy đã đánh lừa được một số người Việt nhẹ dạ, cả tin, nên khi ông Nguyễn Hữu Lễ tuyên bố "DVD này không bán, chỉ ký tặng và tùy vào lòng hảo tâm của người nhận, muốn ủng hộ bao nhiêu cũng được", thì đã có khá nhiều người móc ra 20, 30 USD để nhận lấy một chiếc đĩa có chữ ký của Nguyễn Hữu Lễ. Tổng số tiền Nguyễn Hữu Lễ thu được trong buổi "ra mắt" hôm ấy, là khoảng 20 nghìn USD.

Chưa hết, lại thêm 10 nghìn đĩa DVD được Nguyễn Hữu Lễ giao cho Trần Trọng An Sơn, là thành viên thuộc tổ chức "Chiến sĩ Việt Nam cộng hòa", đặc trách vùng tâây nam nước Mỹ, mang đi... bán tiếp! Lễ tuyên bố: "Sẽ ký tặng cho đồng hương 100 nghìn DVD, sẽ tổ chức ra mắt DVD tại nhiều bang trên nước Mỹ cũng như một số quốc gia khác và sẽ cho dịch ra nhiều thứ tiếng Anh, Pháp, Nhật".

Cuối cùng, Nguyễn Hữu Lễ kết luận: "Công việc khó khăn, tốn kém như thế, nên rất cần đến sự ủng hộ tài chính của đồng hương".

Nói miệng chưa đủ, đầu tháng 8/2009, Nguyễn Hữu Lễ cùng một Việt kiều Nhật là Đỗ Thông Minh, lên Đài Truyền hình STBN (San Jose Tivi Boardcasting Network) dưới sự dẫn dắt chương trình của Vi Anh, Nguyễn Huy Điều, kêu gọi "đồng hương" góp tiền một cách rất ư là bỉ ổi. Ông Trần Lê, chủ tiệm bánh mỳ Lee's sandwich ở khu Bolsa đã phát biểu thẳng thừng khi xem chương trình này: "Bán thì nói mẹ nó ra là bán, chứ bày đặt ủng hộ với đóng góp làm gì".

Ông Nguyễn Hữu Lễ là ai?

Sinh ngày 9/11/1943 tại Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long, Nguyễn Hữu Lễ là con út trong một gia đình theo đạo Thiên Chúa. Học xong bậc trung học, ông ta vào Đại chủng viện Sài Gòn để tu hành rồi đến tháng 4/1970, Nguyễn Hữu Lễ thụ phong linh mục. Sau đó, ông ta được bổ nhiệm về coi sóc họ đạo Sa Đéc - Long Toàn, rồi tiếp theo là họ đạo La Mã, Bến Tre.

Thời điểm ấy, dựa vào việc Tổng thống Việt Nam cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu cũng là người Thiên Chúa giáo, nên một vài linh mục đã "quên đi sự đạo, lao theo sự đời" mà chẳng hạn như "linh mục" Nguyễn Lạc Hóa ở Biệt khu Hải Yến - Cà Mau - trong lớp áo chùng đen bao giờ cũng có một khẩu tiểu liên UZI, đạn lên nòng, sẵn sàng bắn những người nào chống đối, hay như "linh mục" Q., cai quản một xứ đạo ở quận 8, Sài Gòn, có thể sai bảo nhiều tướng lĩnh Việt Nam cộng hòa như sai... con, thì ông "linh mục" Nguyễn Hữu Lễ lại chọn con đường làm ăn kinh tế.

Móc ngoặc với một số quan chức chính quyền thuộc vùng 4 chiến thuật (bao gồm một số tỉnh miền Tây Nam Bộ hiện nay), ông ta than nghèo kể khổ về những xứ đạo mà ông ta từng phụ trách, rồi nhờ chính quyền xin viện trợ của những tổ chức viện trợ Mỹ như USAID, USOM để giúp đỡ giáo dân, nhưng hầu hết tiền bạc, phẩm vật viện trợ đều rơi vào túi ông.

Ông Nguyễn Hữu Lễ đang kêu gọi cộng đồng người Việt ở Mỹ "ủng hộ" cho đĩa DVD.

Theo tài liệu của chính quyền Sài Gòn để lại, chỉ riêng trong năm 1972, họ đạo của "linh mục" Nguyễn Hữu Lễ đã được USAID tặng không 15 nghìn tấm tôn lợp nhà, 40 nghìn bao xi măng. 5 tấn sữa bột, 6 nghìn chiếc chăn (mền)...

Tìm hiểu thêm với những người cao niên sống ở họ đạo La Mã, Bến Tre, họ cho biết từ năm 1972 đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, không người dân nào được nhận tôn, chăn mền, xi măng từ nhà thờ "cha Lễ" chứ nói gì đến sữa bột. Phần lớn những hàng hóa này, ông "linh mục" Nguyễn Hữu Lễ giao cho một đệ tử thân tín là Trần Văn Phương chở về Sài Gòn, bán lại cho một số thương gia người Hoa rồi từ đó, nó biến thành những mặt hàng của những hiệu buôn lớn.

Chả thế mà trong một báo cáo của Cơ quan viện trợ Mỹ USAID, gửi về Washington, có đoạn viết: "Tất cả hàng viện trợ Mỹ đều có in hình hai bàn tay nắm chặt nhau, trên là lá cờ Mỹ, dưới là dòng chữ "không được bán", nhưng ra các chợ lớn nhỏ ở Sài Gòn, Mỹ Tho, Đà Nẵng, Long Xuyên..., đều thấy bày đầy...".

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, lợi dụng chính quyền cách mạng chưa ổn định, ông "linh mục" Nguyễn Hữu Lễ cùng một số tàn quân, lập nên tổ chức chống đối, tiến hành âm mưu lật đổ. Tuyên truyền với đồng bọn, ông lập luận rằng ông là "linh mục", nên chắc chắn người Mỹ sẽ ủng hộ ông (?!).

Để đánh bóng cá nhân và cũng là để lên dây cót tinh thần đồng bọn, lâu lâu ông lại xì ra một thông tin, rằng đại tá cố vấn trưởng Quân đoàn 4 (người Mỹ) vừa cho liên lạc viên đặc biệt từ Mỹ bí mật về tiếp xúc với ông, và hứa hẹn sẽ yểm trợ cho ông súng đạn, lương thực, tiền bạc, hoặc "trung tướng Ngô Quang Trưởng, tư lệnh Quân khu 1 - hiện là tổng tư lệnh các lực lượng kháng chiến quốc nội, đã gửi thư tay, đề nghị liên minh với tổ chức của ông". Bị bắt quả tang với đầy đủ tang vật, Nguyễn Hữu Lễ lĩnh án 13 năm tù giam.

Cuối năm 1988, được tha, Nguyễn Hữu Lễ vượt biên sang Thái Lan. Sau hơn 2 năm sống trong trại tị nạn, ông ta được cho đi định cư ở New Zealand dưới sự bảo lãnh của Giám mục giáo phận Aukland rồi năm 1994, Nguyễn Hữu Lễ làm linh mục quản hạt một giáo phận ở Aukland. Những tưởng từ đây, ông sẽ chuyên tâm lo lắng phần hồn cho bổn đạo. Nhưng không, ở chưa ấm chỗ, ông đã bắt tay vào viết cuốn hồi ký mang tên "Tôi phải sống", nội dung bịa đặt trắng trợn về chế độ ăn ở, sinh hoạt, lao động của trại cải tạo Thanh Cẩm nơi ông ta thụ hình.

Cuốn sách ấy sau khi xuất bản ở Mỹ, và khi được một số tờ báo của những nhóm người Việt cực đoan, phản động ở Mỹ tung hô, Nguyễn Hữu Lễ tổ chức bán, kiếm được bộn tiền - khoảng trên 200 nghìn USD. Những người đã từng ở chung trại Thanh Cẩm với Nguyễn Hữu Lễ, đọc xong "Tôi phải sống", đã mỉa mai: "Lẽ ra ông Lễ phải đặt tên sách là "Cha phải sống, còn các con... cứ chết" mới đúng".

Một trong những điều bỉ ổi nhất của Nguyễn Hữu Lễ, là phần viết về ông Bùi Đình Thi. Để lấy "tư liệu", ông "linh mục" Nguyễn Hữu Lễ đã khăn gói quả mướp đến ăn nhờ ở đậu nhà ông Thi (lúc đấy đã định cư ở quận Cam - Orange County - bang California, Mỹ theo diện H.O). Là một đại úy binh chủng thiết giáp trong quân đội Sài Gòn, sau ngày giải phóng ông Thi cũng đi học tập cải tạo như bao nhiêu sĩ quan chế độ cũ khác. Tôn trọng ông "linh mục" Lễ, vợ chồng ông Thi cơm bưng nước rót, hầu hạ tử tế.

Khéo léo hỏi han ông Thi về những ngày sống trong trại cải tạo, "linh mục" Nguyễn Hữu Lễ biến giáo dân - đại úy Bùi Đình Thi thành một "trật tự viên" của trại Thanh Cẩm, theo lệnh cán bộ quản giáo, đã hành hạ, đánh đập rất dã man những cải tạo viên khác - kể cả Nguyễn Hữu Lễ (?!). Viết xong, ông tìm đến một số tờ báo của người Việt ở Mỹ nhờ đăng nhưng bị từ chối. Quyết không thua, ông "linh mục" Lễ gặp gỡ các hội đoàn người Việt, tán phát bài viết này. Do thiếu thông tin, một số người đã ủng hộ ông ta nhưng một số khác thì phê phán, vì nếu quả thật có chuyện như vậy, chẳng lẽ một "linh mục" lại mang lòng hận thù, nhất định đòi ăn thua đủ hay sao?

Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã. Thời may, Nguyễn Hữu Lễ gặp được Nguyễn Đình Thắng, kẻ cầm đầu cái gọi là "Ủy ban cứu người vượt biển". Vớ được tập tài liệu bịa đặt về ông Thi, Nguyễn Đình Thắng thuê luật sư, kiện Bùi Đình Thi ra trước Tòa án Los Angeles với nhân chứng sống là... Nguyễn Hữu Lễ. Ngày ra tòa, ông Lễ mặc áo chùng đen, nước mắt nước mũi nhễu nhão khi kể về "tội ác" của Bùi Đình Thi rồi sau đó, lại nhân danh "linh mục" để tha tội cho ông Thi!

Chưa hết, Lễ còn cùng với Trần Quốc Bảo, Nguyễn Ngọc Bích, Bùi Diễm, Bùi Tín, Bùi Văn Nhân..., thành lập "phong trào quốc dân đòi trả tên Sài Gòn" mà theo lời cộng đồng người Việt ở Orange County: Quốc, dân nào ở đây? Một trò hề không hơn không kém.

Sự xuyên tạc trắng trợn

Trở lại đĩa DVD "Sự thật về Hồ Chí Minh", như chúng tôi đã nói ở trên, sau khi xem hết nội dung, người ta chẳng thấy cái gọi là "sự thật" nằm ở đâu cả, mà chỉ là những đoạn phim cắt ghép, xào nấu méo mó từ ở các phim tài liệu, phóng sự cộng với phần trả lời của một số thành phần chống Cộng mà Nguyễn Hữu Lễ phỏng vấn, chẳng hạn như Bùi Tín, Dương Thu Hương, Minh Võ, Trần Gia Phụng, Trần Ngọc Thành, kể cả những người gọi là nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh như Giáo sư William J. Duke, Giáo sư Sophie Quinn Judge..., rồi được Nguyễn Hữu Lễ lắp ghép lại, cùng với lời bình xuyên tạc để đánh lừa người xem, rằng đây là những tài liệu chưa hề được công bố. Tuy nhiên, khi tiến hành phỏng vấn Giáo sư William J. Duke, và Giáo sư - nhà nghiên cứu Sophie Quinn Judge, ông "linh mục" Nguyễn Hữu Lễ đã cố ý cắt xén những nhận xét của hai nhân vật này về tư tưởng, đạo đức và về phong trào giải phóng dân tộc do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo.

Trên một tờ báo của người Việt xuất bản ở Mỹ, đã có độc giả lên tiếng như sau: "Như vậy, sản phẩm DVD nêu trên chỉ là một công trình đầu voi (sự thật), đuôi chuột (chống Cộng), thiếu lương thiện trí thức với một ý đồ toan tính phá bỏ những điều mà họ cho là "huyền thoại Hồ Chí Minh". Nhưng xem ra họ đã hoàn toàn thất bại vì chính những nội dung trong DVD "Sự thật về Hồ Chí Minh" lại chẳng có mấy "Sự thật về Hồ Chí Minh", được trình diễn bởi những diễn viên hạng ba, trên một sân khấu đã rữa nát". Sự cẩu thả và nhầm lẫn lớn ở DVD đã lên mức tột đỉnh. Đó là có đoạn phỏng vấn Trần Mạnh Hảo thì lại đưa ảnh... Hoàng Trần Cương! Thậm chí có đoạn nhầm cả Đại tướng Võ Nguyên Giáp với Đại tướng Văn Tiến Dũng.

Có thể nói, đĩa DVD "Sự thật về Hồ Chí Minh" là một xuyên tạc trắng trợn. Tác giả của nó đã không từ bỏ bất kỳ một sự kiện nào xảy ra trong lịch sử Việt Nam - kể từ khi Đảng Cộng Sản kêu gọi toàn dân kháng chiến chống thực dân Pháp, đến ngày đất nước thống nhất - để bôi nhọ hình ảnh một lãnh tụ - không chỉ nhân dân Việt Nam - mà cả thế giới đều ngưỡng mộ, khâm phục.

Người xem tự hỏi: Nếu đã gọi là "sự thật", thì tại sao ông "linh mục" Nguyễn Hữu Lễ lại không dám đưa vào phim, hình ảnh hàng nghìn người, kiên nhẫn xếp hàng giữa mùa hè nắng gắt, hay những cơn gió bấc lạnh tím da, chỉ để được vào Lăng, viếng Người.

Trong cuốn "Ho Chi Minh, a life - Hồ Chí Minh - một cuộc đời), Giáo sư Williams J. Duke, viết: "Khi tin tức về cái chết của ông Hồ Chí Minh được loan ra, Hà Nội nhận 22 nghìn bức điện chia buồn từ 121 quốc gia trên thế giới. Nhiều nước tổ chức truy điệu, và ca ngợi ông Hồ Chí Minh như người lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc xuất sắc, người con vĩ đại của dân tộc Việt Nam anh hùng, là hiện thân của lòng khát vọng tự do, của sự đấu tranh bền bỉ. Ông là gương mẫu cho đức tính giản dị, là người bảo vệ cho những người bị áp bức...”.

Một nửa ổ bánh mì mãi mãi vẫn là bánh mì, nhưng một nửa sự thật thì không bao giờ là sự thật. Lần sau, nếu vẫn còn muốn làm phim về "sự thật", có lẽ ông Nguyễn Hữu Lễ nên tìm hiểu thêm về những "sự thật" - chẳng hạn như Giáo sư Duke vừa trình bày, kẻo thiên hạ lại bảo ông "lừa mà không biết đường... bịp!"

PV - ANTG 891
shanmai wrote on Nov 20, '09
Nguyễn Hữu Lễ ư ? Kẻ định lật đổ chính quyền VN, bị chính quyền VN bắt, xử tù.Hận thù như thế, nên cái gì ông ta đưa ra có mang ý đồ bêu xấu chính phủ VN và HCM cũng đâu có lạ. Sao không có tác giả nào "ngon lành " hơn NHL làm như ông ta ? Thế là đủ hiểu cái "sự thật" của NHL là gì !
lmhuule wrote on Nov 20, '09
NHẬN ĐỊNH VỀ DVD “SỰ THẬT VỀ HỒ CHÍ MINH”

Của Linh mục Nguyễn Hữu Lễ & Trần Quốc Bảo

Trần Chung Ngọc



23 tháng 8, 2009 - bổ túc vài chi tiết ngày 31 tháng 8, 2009
theo yêu cầu của đọc giả với sự đồng ý của tác giả

Gần đây, đọc trên Internet, tôi đã biết là ở hải ngoại mới tung ra một DVD về “Sự Thật Về Hồ Chí Minh”, “sản phẩm trí tuệ” của linh mục Nguyễu Hữu Lễ và Trần Quốc Bảo. Nhìn vào bản thân của linh mục Nguyễn Hữu Lễ, và danh sách những tài liệu tham khảo như của Cao Thế Dung, Minh Võ, Trần Gia Phụng, Hoàng Văn Chí, Mark Moyar, Lê Hữu Mục v…v… cùng những nhân vật được phỏng vấn để thực hiện DVD như Minh Võ, Nguyễn Ngọc Bích, Bùi Diễm, Nguyễn Minh Cần, Vũ Ngự Chiêu, Vũ Thư Hiên, Dương Thu Hương, Lê Hữu Mục, Tôn Thất Thiện, Trần Gia Phụng, Trần Ngọc Thành, Trần Mạnh Hảo, Bùi Tín, LM Phan Văn Lợi v..v…, chúng ta có thể đoán được nội dung và giá trị những “sự thật” này là như thế nào. Cho nên, tôi không mấy quan tâm đến tài liệu này.

Nhưng có người bạn vừa mới cho tôi một bản sao DVD trên, cho nên tôi đã bỏ chút thì giờ xem trong đó có những gì. Xem xong tôi có thể nói ngay đó là một tài liệu chống Cộng quen thuộc rất rẻ tiền, và nếu tôi có thể mượn lời của Ulrich Rippert trong bài “A political evaluation of Schwarzbuch des Kommunismus” -- [The Black Book of Communism], 15 July 1998, nhận định về cuốn “Le Livre Noir Du Communisme” của Tổng Biên Tập Stéphane Courtois như sau: “Là một tác phẩm nghiên cứu nghiêm chỉnh về sử, cuốn “Sách Bôi Nhọ…” hoàn toàn vô giá trị”. [As a serious historical work the “black book” is totally worthless], thì tôi cũng có thể đưa ra một nhận định tổng quát về DVD “Sự Thật Về Hồ Chí Minh” : “Là một sản phẩm chống Hồ Chí Minh và chống CS, DVD “Sự Thật Về Hồ Chí Minh” hoàn toàn vô giá trị” .

Trước khi viết bài phân tích này, tôi có email hỏi vài người bạn thân xem đã có ai coi DVD này chưa và có ý kiến gì không? Một người bạn đã trả lời như sau:

Toàn bộ cuốn phim (khoảng 100 phút) được cài đặt trên YouTube (13 đoạn):

http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?t=129707

Tôi chưa xem hết nhưng sơ khởi có những nhận xét sau:

1- Từ nội dung (tài liệu) đến hình thức (kỹ thuật) rất chuyên nghiệp. Tôi không tin người Việt hải ngoại, let alone LM Nguyễn Hữu Lễ, có khả năng thực hiệnđược. Tôi nghi là có "bàn tay" nào đó chỉ đạo và giúp đở.

2- Thành phần được phỏng vấn thì đơn điệu, một chiều, cùng phe cánh. Cho nên, at best, có thể gọi là "Một nữa sự thật về HCM" thì đúng hơn. Những công lao của ông HCM trong sự nghiệp cứu nước hoàn toàn không được đề cập đến.

3- Nhiều tài liệu hoặc interviews chỉ là những tuyên bố chủ quan, không có reference.

4- Một trong những kỹ thuật (tuyên truyền) là associate ông HCM với Staline, Mao, Pol Pot, ... để force tư duy người xem chấp nhận (một cách vô thức) cái similarity giữa những nhân vật nầy.

5- Fact Interpretation, ví dụ về chuyện ông HCM làm đơn xin học trường thuộc địa và nhiều chuyện khác, cũng chỉ là suy diễn theo chủ quan để phục vụ mục đích tuyên truyền của DVD.

6- Rất "vui" vì thấy ghi tên người chủ trương DVD là LINH MỤC Nguyễn Hữu Lễ. Để cho những ai còn "mơ tưởng" chuyện bang giao với Vatican ... sáng mắt ra.

Nói tóm lại, đây là một tài liệu tuyên truyền hơn là một nghiên cứu lịch sử. Nhưng chắc chắn là có hiệu quả cao trong giới CG và chống Cọng. Và cũng "thuyết phục"được một số đông lười suy nghĩ và thiếu hiểu biết.

Tôi đồng ý với anh bạn về những nhận xét trên nhưng đó chỉ là những nhận xét đại cương về một phần của DVD. Đi vào sự phân tích những chi tiết trong DVD trên, chúng ta có thể chứng minh rằng, “sản phẩm trí tuệ” của LM Nguyễn Hữu Lễ và Trần Quốc Bảo, và của một số người được phỏng vấn, thuộc loại chống Cọng rẻ tiền, không có một giá trị trí thức nào. Vì thời buổi này mà còn mang những chuyện thuộc loại “tố Cọng” của hai nền Đệ Nhất và Đệ Nhị Việt Nam Cọng Hòa như “tiêu diệt các đảng phái quốc gia”, “cải cách ruộng đất”, “Tết Mậu Thân” , “gần 1 triệu người Bắc di cư năm 1954” v…v… và đổ lên đầu ông Hồ với chủ trương “character assassination” thì giá trị trí thức là ở chỗ nào. Điều đặc biệt là ngay cả những bậc được gọi là trí thức cũng nhắc đi nhắc lại những luận điệu tố Cọng đã lỗi thời trên như là những đĩa hát đã cùn, cứ lập đi lập lại một điệu.

DVD “Sự Thật Về Hồ Chí Minh” vô giá trị vì dựa trên những thông tin sai lầm, khoan kể những phát biểu một chiều của vài nhân vật Việt Nam được phỏng vấn, như ngay cả khi phỏng vấn những tác giả nổi tiếng như William J. Duiker, Sophie-Quinn Judge , những tác giả đã nghiên cứu về Hồ Chí Minh, những người làm DVD trên cũng chỉ đưa ra vài chi tiết lặt vặt về đời tư của ông Hồ, mà bỏ qua những nét quan trọng và to lớn hơn nhiều về nhân vật Hồ Chí Minh của chính hai tác giả trên. Những người làm DVD trên cũng không nhắc đến những cuộc phỏng vấn của đài RFI và BBC, phỏng vấn chính Giáo-sư Sophie-Quinn Judge và Pierre Brocheux, giáo sư đại học Pháp. Như vậy sản phẩm DVD trên chỉ là kết quả của một công trình đầu voi “Sự thật về Hồ Chí Minh” với đuôi chuột “chống Cọng”, thiếu lương thiện trí thức, một chiều, với một ý đồ là toan tính phá bỏ những điều mà họ cho là những “huyền thoại về Hồ Chí Minh”. Nhưng họ hoàn toàn thất bại vì chính nội dung trong DVD về “Sự Thật Về Hồ Chí Minh” lại chẳng có mấy “sự thật về Hồ Chí Minh” mà chỉ là một loạt những quy kết mọi trách nhiệm lên đầu Hồ Chí Minh. Chúng ta sẽ thấy, tất cả chỉ là những màn kịch cũ kỹ, diễn xuất bởi nhưng diễn viên hạng ba, trên một sân khấu mà những đà chống đỡ đã mục nát. Sau đây chúng ta hãy đi vào việc phân tích một số chi tiết trong vở tuồng “Sự Thật Về Hồ Chí Minh”.



Màn Kịch 1 của DVD “Sự Thật Về Hồ Chí Minh”



Mở đầu DVD là hình ảnh hàng dài người dân Việt Nam vào thăm “Lăng Bác Hồ” rồi đối chiếu với lễ khánh thành Đài Kỷ Niệm Những Nạn Nhân Cọng Sản ở Washington D.C., do tổng thống George W. Bush (Bush Con), nhân danh người dân Mỹ, đứng ra tố Cọng với luận điệu chứng tỏ trình độ của Bush về vấn đề này không khác với trình độ của LM Nguyễn Hữu Lễ và những người Việt chống Cọng ở hải ngoại là bao nhiêu. Thật vậy, ông Bush nói: “theo sự nghiên cứu của các sử gia trên thế giới, thì con số nạn nhân của Cọng sản trên thế giới là 100 triệu người”.

Mở ngoặc: Lẽ dĩ nhiên ông Bush không bao giờ muốn nhắc đến con số những nạn nhân của Mỹ là bao nhiêu qua mấy trăm năm lịch sử của Mỹ vì có thể ông ta không biết đến. Chỉ kể nguyên trên đất Mỹ thì người da trắng, con dân Chúa cao quý, đã cướp hết đất đai của người da đỏ và thi hành chính sách diệt chủng đối với người da đỏ và cưỡng bách người da đỏ phải theo cái đạo cao quý cầm đầu bởi Chúa lòng lành vô cùng của họ. Từ 1620 đến 1890, trong vòng 270 năm, những con cái của Chúa đã giảm dân số dân da đỏ từ 15 triệu xuống còn dưới 250000, và biến miền đất phì nhiêu của dân da đỏ thành "Tân Thế Giới" của người da trắng, do người da trắng (Christophe Columbus) tìm ra. Nhiều người da đỏ ngày nay nuốt nước mắt, không biết làm gì hơn là uống rượu để giải sầu. (Professor Ward Churchill, Sacramento Bee, Nov.23, 2000: Does anyone expect us (the Indians) to give thanks [on Thanksgiving day] for the fact that soon after the Pilgrim fathers regained their strength, they set out to dispossess and exterminate the very Indians who had fed them that first winter? Is it reasonable to assume that we might be jubilant that our overall population, numbering perhaps 15 million at the ouset of the European invasion, was reduced to less than a quarter- million by 1890?). Đóng ngoặc.

Nhưng qua câu nói trên của ông Bush về những nạn nhân của Cọng sản, vấn đề là con số 100 triệu từ đâu mà ra, các sử gia trên thế giới là ai, và nạn nhân của Cọng sản là những ai. Chẳng cần phải nói, ai cũng biết đó là con số mà Stéphane Courtois đưa ra trong cuốn “Le Livre Noir Du Communisme”. Đó là con số mà Courtois đã phóng đại quá lố như chính một số đồng tác giả của ông ta trong cuốn sách trên đã phê bình:

Trong phần Dẫn Nhập, Stéphane Courtois đưa ra con số 1 triệu nạn nhân của chính sách khủng bố của CS Việt Nam đối với chính dân của mình. Con số này lấy ở đâu ra, và có thực tế hay không? Jean-Louis Margolin, tác giả viết 10 trang về Việt Nam, đã công khai tố cáo Stéphane Courtois là bịa ra con số 1 triệu ở Việt Nam trong sự ám ảnh để đi tới mục tiêu là tổng số 100 triệu nạn nhân trên thế giới của Cộng Sản [Jean-Louis Margolin explique «qu'il n'a jamais fait état d'un million de morts au Vietnam», contrairement à ce qu'écrit Courtois.] Mặt khác, 3 tác giả trong cuốn sách trên cũng đã chính thức lên tiếng trước công luận phản đối Chương Dẫn Nhập của Stéphane Courtois, không chấp nhận những gì Stéphane Courtois viết để đánh đồng chính sách diệt chủng của Đức Quốc Xã với sự đàn áp dưới chế độ Stalin, và những con số phóng đại phi lý của Stéphane Courtois trong Chương này. [La moitié des auteurs — Nicolas Werth, Jean-Louis Margolin et Karel Bartosek — ont protesté publiquement contre le chapitre introductif de Stéphane Courtois, ils y refusent son rapprochement du génocide nazi et de la répression stalinienne, ainsi que le calcul du nombre de victimes, dont ils contestent à la fois l’opportunité et les chiffres utilisés, qui pour certains sont leurs chiffres mais augmentés sans raison par Courtois.] Những sự kiện này chứng tỏ Stéphane Courtois không có mấy lương thiện trí thức, và con số 1 triệu nạn nhân của CS Việt Nam chỉ là một con số bịa đặt quá lố, không có bất cứ một giá trị nào. Nó thuộc loại những con số tuyên truyền của Việt Nam Cộng Hòa và Mỹ về con số nạn nhân trong cuộc Cải Cách Ruộng Đất ở ngoài Bắc, dựa trên con số đoán mò mà Hoàng Văn Chí đã thú nhận sau khi bị Gareth Porter công bố sự ngụy tạo của Chí [The Political Economy of Human Rights : Volume I, p. 343 : Chi eventually conceded to be merely a « guess »..This admission came after Porter had made Chi’s falsifications public]

Ngoài ra, giống như những luận điệu chống Cộng của một thiểu số người Việt ở hải ngoại, mọi việc bất hạnh và tệ đoan xã hội xảy ra trong các xã hội Cộng sản đều đổ lên đầu Cộng Sản, các tác giả cũng quy kết những người chết trong những nạn đói ở Nga, ở Tàu cũng đều là do tội ác của Cộng sản gây ra.

Màn Kịch 2 của DVD “Sự Thật Về Hồ Chí Minh”



Bỏ qua một hình ảnh về những thuyền nhân bỏ nước ra đi sau 1975 với một câu “tố Cọng” rất cường điệu và láo lếu: “Toàn dân thù hận đến độ 2 triệu người phải bỏ nước ra đi”, một hình ảnh chẳng dính dáng gì đến cái gọi là “Sự thật về Hồ Chí Minh”, chúng ta hãy sang phần đầu của nội dung “Sự thật…” [Ông Hồ Chí Minh chết năm 1969].



Màn Kịch 3 của DVD “Sự Thật Về Hồ Chí Minh”.



Những người làm DVD đặt nghi vấn về năm sinh, ngày sinh và ngày chết của Hồ Chí Minh. Đây có phải là những yếu tố quan trọng để đánh giá con người Hồ Chí Minh hay không? Ông Hồ sinh năm 1890, hay 1892, hay 1895? Vậy thì sao ?? Ông Hồ không sinh ngày 19 tháng 5? Vậy thì sao ?? Hiện nay, Chúa Giê-su của hơn 1 tỷ người thờ phụng ông ta nhưng không có một học giả nào trên thế giới biết được ngày sinh hay năm sinh của Giê-su. Người ta đã mượn ngày 25 tháng 12, ngày Đông Chí theo lịch cổ xưa tính sai, một ngày lễ của dân gian, để làm ngày “giáng sinh” của Giê-su. Vậy mà ngày nay hàng năm cứ đến ngày 25 tháng 12, tín đồ Ki Tô Giáo lại rầm rộ chăng đèn kết hoa tổ chức ăn mừng “giáng sinh” mà thật ra không phải là “giáng sinh”. Vậy thì sao? Có ai thắc mắc gì không? Vậy tại sao lại thắc mắc về ngày sinh cũng như năm sinh của ông Hồ? Có thể chứng tỏ được gì? Những chi tiết này nằm trong lãnh vực nghiên cứu của các học giả, có thể là một chi tiết nằm trong một tác phẩm nghiên cứu về nhân vật Hồ Chí Minh, nhưng nó chẳng nói lên được điều gì ngoài yếu tố nghiên cứu chính xác lịch sử trong lãnh vực học thuật, chứ không thể dùng nó trong những mưu đồ chính trị để hạ bệ ông Hồ. Người dân, nhất là nông dân, cũng như tôi, có ai quan tâm đến ngày sinh của ông Hồ là ngày nào. Ông Hồ muốn sinh ngày nào cũng được, điều quan trọng là ông đã làm gì cho đất nước. Những người làm DVD không hiểu được những điều này hay sao?

Rồi lại có ông Nguyễn Văn Trần ở Pháp khẳng định rằng ngày ông Hồ chết là ngày 2 tháng 9 chứ không phải là ngày 3 tháng 9 như đảng đã tuyên bố, rồi cho rằng đó là sự dối trá “phản khoa học và phản văn hóa” [sic]. Nhưng chuyện này đâu có gì là lạ, vì Duiker đã viết tại sao đảng lại lui ngày chết của ông Hồ 1 ngày.

Duiker viết, trang 566:

Đảng cũng tuyên bố là ông Hồ chết ngày 3 tháng 9, một ngày sau ngày ông Hồ thật sự chết, để giữ tâm tình của quần chúng trong ngày lễ độc lập của quốc gia vào ngày 2 tháng 9, 1945, khi ông Hồ đọc bản tuyên ngôn độc lập ở quảng trường Ba Đình.

[The Party also announced that Ho had died on September 3, one day later than its actual occurrence, in order to prseserve the mood of the national holiday of independence, which celebrated the anniversary of September 2, 1945, when Ho Chi Minh had read the Declaration of Independence in Ba Dinh Square.]

Và chính ông Nguyễn Văn Linh cũng đã nói rõ:

Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời lúc 9 giờ 47 phút ngày 2 tháng 9 năm 1969, ngày Quốc khánh của nước ta. Để ngày Bác mất không trùng với ngày vui lớn của cả dân tộc, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III) đã quyết định công bố Chủ tịch Hồ Chí Minh mất vào lúc 9 giờ 47 phút ngày 3-9-1969. Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VI) cho rằng nay cần công bố lại đúng ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời.

Đây là một việc làm có mục đích hẳn hoi, và mục đích đó là vì lợi ích của toàn dân chứ không phải vì lợi ích của cá nhân Hồ Chí Minh, thì có gì là một sự gian dối “phản khoa học và phản văn hóa”? và gian dối để làm gì, không thấy ông Trần nói. Mấy ông không theo dõi thời cuộc, cứ mang một điều cũ kỹ đã được sửa lại ra để nói bậy.



Màn Kịch 4 của DVD “Sự Thật Về Hồ Chí Minh”



DVD nêu vấn đề về ông Nguyễn Sinh Sắc [hay Nguyễn Sinh Huy ?], thân phụ của ông Hồ. Ông Sắc [Huy] từ quan hay bị cho về vườn? Ông Trần Gia Phụng cho rằng, vì một thuộc hạ của ông Huy đánh chết người nên ông Sắc bị triều đình phạt đánh 100 roi sau hạ bản án là cho về vườn. Ông Lữ Phương viết:

Nguyễn Sinh Huy đậu phó bảng năm 1901; 1906 vào Huế nhậm chức thừa biện Bộ Lễ; 1909 được cử làm tri huyện Bình Khê (tỉnh Bình Định), nhưng chỉ 7 tháng sau, tháng 1-1910, thì bị bãi chức và bị triệu hồi về Huế. Lý do: theo Sở mật thám [Pháp] ông đã uống rượu say và đánh chết người. [Tại sao sở mật thám Pháp lại quan tâm đến một vụ “đánh chết người” ở một Huyện. Rõ ràng là Pháp đã nghi ngờ ông Huy và muốn loại bỏ ông Huy. Điều này phù hợp với tài liệu của Pháp mà Giáo sư Sophie Quinn-Judge cho biết khi nói về gia đình ông Huy ở phần sau. TCN. ]

Nguyễn Sinh Huy phản bác (thừa nhận có đánh một tù nhân, nhưng cho rằng cái chết không phải do roi của ông), tuy thế do xét nghiệm cho biết người bị đánh đã phát bệnh mà chết, nên ông vẫn bị giáng bốn cấp và bãi chức.

Mục đích của DVD? Chứng tỏ ông Huy không phải là người yêu nước mà từ quan, vậy thì ông Hồ cũng không phải là người yêu nước. Nhưng, bất kể là ông Huy từ chức hay bị cho về vườn, gia đình ông Huy là một gia đình yêu nước, điều này không ai có thể phủ nhận. Trước một câu hỏi của đài BBC, ban tiếng Việt, về ảnh hưởng của thân phụ đối với ông Hồ, Giáo sư Sophie Quinn-Judge [khá giỏi tiếng Việt] đã trả lời như sau:



Sophie Quinn-Judge: Cha của ông Hồ là một nhân vật rất đáng chú ý và tôi hi vọng sẽ có thêm tài liệu nghiên cứu tiếng Việt để hiểu rõ hơn thân thế của người này. Nhưng rõ ràng là việc người cha bị thất sủng, không còn là quan cấp tỉnh trong chế độ Pháp đã có tác động đến cuộc sống ông Hồ. Bởi sau khi ông Nguyễn Sinh Huy bị miễn nhiệm tại tỉnh Bình Định, con ông là Nguyễn Tất Thành buộc phải thôi học ở trường Quốc học Huế và trở thành thầy giáo tại Phan Thiết. Rồi ông vào Nam và như mọi người đều biết, ông đi Pháp năm 1911. Nếu cha ông vẫn còn tại chức, thì có lẽ người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã tiếp tục đi học ở Huế và sự nghiệp chống thực dân của ông có thể đã ngả sang một hướng khác. Chúng ta không biết chắc, nhưng những hoàn cảnh bên ngoài đã buộc ông phải ra nước ngoài.


Với câu hỏi tiếp của BBC:

BBC: Bà ngụ ý là ban đầu ông Hồ ra nước ngoài không phải với mục đích tìm đường cứu nước?

Sophie-Quinn Judge: Không, ý tôi không phải là như thế. Dựa trên tài liệu của Pháp nói về các anh chị trong gia đình ông Hồ và những lần họ giúp đỡ cho Phan Bội Châu, tôi nghĩ gia đình họ tham gia vào các hoạt động yêu nước chống thực dân từ sớm. Tôi tin là ông Hồ Chí Minh cũng sẽ tham gia vào các hoạt động chống thực dân theo cách này hay cách khác. Nhưng bởi vì ông không thể ở lại trường Quốc học, nên ông ra nước ngoài để tìm biện pháp hoặc học thêm để nghĩ cách chống người Pháp.

Trên đây là những nhận định rất nghiêm túc của một học giả cỡ Giáo sư Sophie Quinn-Judge, người không có lý do gì để thương hay ghét ông Hồ Chí Minh mà chỉ đi tìm sự thật lịch sử. Nhưng quan điểm trên không đơn giản như vậy. Theo tài liệu phân tích của Jules Archer trong cuốn “Ho Chi Minh” thì ông Hồ cho rằng Việt Nam không thể tự lực đánh đuổi được thực dân Pháp mà phải có sự trợ giúp ở bên ngoài. Nhưng ông Hồ không đồng ý với các ông Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh, tìm sự trợ giúp ở Đông phương như của Nhật Bản hay Trung Hoa. Ông Hồ thấy xã hội Tây Phương tân tiến hơn nhiều về những vấn đề xã hội như tự do, nhân quyền, bình đẳng v..v…, do đó ông Hồ tìm đường trợ giúp từ Tây Phương, với hi vọng có thể những tư tưởng cách mạng của Pháp năm 1789 có thể áp dụng cho Việt Nam.

[Archer, p.6: He (Ho) decided against joining Phan Boi Chau’s group in Canton, reasoning that the new Chinese Republic would be far to feeble to offer much practical help. Some rebel exiles had gone to Japan; but in Ho’s eyes, expecting aid from Japan’s militarists was to “hunt the tiger and be eaten by wolves”

Who would be more likely to sympathize with the ideals of independence, freedom and democracy, he reflected, than the nations of the West? They, after all, had governments based on the sovereignty of the people. So it was in the West, rather than the East, that he decided to seek help.]



Màn Kịch 5 của DVD “Sự Thật Về Hồ Chí Minh”



DVD đưa ra một tài liệu, bức thư của Hồ Chí Minh xin học ở trường thuộc địa, và đã bị giám đốc trường nầy từ chối không cho học, để chứng minh rằng mục đích của ông Hồ không phải là xuất ngoại để cứu nước mà để tìm đường làm ăn. Bức thư được ông Nguyễn Gia Phụng dịch ra tiếng Việt và đọc trong DVD. Nhưng đưa ra tài liệu này, những người làm DVD không nghĩ đến phản tác dụng của nó. Thứ nhất, họ không tìm hiểu tại sao giám đốc trường thuộc địa lại từ chối đơn xin học của ông Hồ với lý do rất đáng buồn cười: “Mục đích của ông tới đây là để kiếm sống chứ không phải là để đi học” Ở trên đời này có trường nào bác đơn xin học của một sinh viên với lý do là anh ta không có ý định đi học không? Sở dĩ trường thuộc địa bác đơn xin học của ông Hồ vì trong đơn ông Hồ “đã dại dột” viết rõ là mục đích của ông là có thể dùng nền học vấn để giúp ích cho đồng bào của ông, để cho họ được hưởng những hữu ích của nền học vấn mà ông thu thập được [“Je désirerais devenir utile à la France vis à vis de mes compatriotes et pouvoir en même temps les faire profiter des bienfaits de l’instruction”]. Những người chống Cọng quê mùa thường bỏ đi đoạn sau trong câu trên và diễn giải là ông Hồ xin học trường thuộc địa để phục vụ cho Pháp (utile à la France). Nhưng một người như ông Hồ, thuộc một gia đình yêu nước chống Pháp, thì “phục vụ cho Pháp” không thể tương hợp với “phục vụ đồng bào”. Đó chỉ là một câu để có thể xin vào học trường thuộc địa. Trường thuộc địa là để đào tạo những tay sai phục vụ cho nước Pháp, chứ không phải để phục vụ cho dân thuộc địa. Giám đốc trường thuộc địa không phải là không biết điều này, nên đã từ chối với một lý do vốn không phải là lý do, vì nó rất vô lý. Những người muốn hạ bệ ông Hồ về một bức thư xin học trường thuộc địa không đủ trí tuệ để thấy sự phản tác dụng khi đưa ra tài liệu này.



Màn Kịch 6 của DVD “Sự Thật Về Hồ Chí Minh”



Tiếp theo, DVD bàn đến chuyện phòng the của ông Hồ. Trên thực tế thì từ ngày ông làm Chủ Tịch nước, chúng ta không thấy bóng dáng người đàn bà nào bên ông. Trong hậu trường thì chúng ta không biết. Nhưng vấn đề là, ông Hồ có vợ, có con? Vậy thì sao? Người dân chỉ quan tâm đến chuyện ông thuộc một gia đình yêu nước, bà chị bị chết trong tù vì tội ăn cắp súng của Pháp, và ông cùng các đồng chí đã mang lại độc lập cho nước nhà, chiến thắng trong hai cuộc chiến chống Pháp và chống Mỹ.. Ông Ngô Đình Diệm cũng có vợ có con dù người ta đã khoác vai trò độc thân lên người ông ta. Có sao đâu? Người dân chỉ quan tâm đến chuyện ông Diệm thuộc gia đình “tam đại Việt Gian”, trong khi toàn dân kháng chiến thì nằm chui trong mấy tu viện Công giáo ở ngoại quốc, sau đó được Mỹ bưng về thì trở thành “chí sĩ bao năm lê gót nơi quê người để tìm đường cứu nước” [sic], và khi cầm quyền ở Việt Nam thì thi hành một chính sách ngu xuẩn, cuồng tín, gia đình trị, tôn giáo trị. Lôi những chuyện lặt vặt vợ con, bỏ qua những chuyện quan trọng hơn, lớn hơn, có tầm vóc quốc tế, để nói về những “sự thật” về một nhân vật quốc tế như ông Hồ, thì đầu óc của những người làm DVD và cộng tác quả thật là quá hẹp hòi. Dù ông Hồ có vợ nhưng chắc chắn điều đó không có ảnh hưởng gì đến nhiệm vụ của ông ta đối với dân tộc, quốc gia. Một thí dụ: Khi nghe tin người anh cả chết, ông Hồ đã viết thư tỏ ý rất tiếc là không thể về dự đám tang và xin lỗi gia đình vì “đã đặt việc nước trước việc nhà” [Archer, p. 53: “I humbly apologize for this failure in brotherly devotion, and beg to be forgiven as one has to put affairs of state before family feelings.”] Đối với tôi, chuyện ông Hồ có vợ hay không, không phải là chuyện tôi cần để ý. Nhưng tôi cảm thấy tội nghiệp cho những người làm DVD vì trong cuốn “Ho Chi Minh: A Life” của William J. Duiker, dày hơn 600 trang, mà chỉ đưa ra một tài liệu là trong đời ông Hồ đã có bóng dáng của 5 người đàn bà, trong khi trong đó có cả ngàn “sự thật về Hồ Chí Minh” to lớn hơn nhiều thì bỏ qua. Người Việt Nam chẳng có ai coi ông Hồ là thánh, chẳng có mấy người coi ông Hồ là một “thần tượng”, bất kể đảng nói gì về ông Hồ. Người dân chỉ coi ông Hồ đơn giản là “Bác Hồ”, và chừng đó cũng đủ. DVD cũng phỏng vấn Giáo sư Sophie-Quinn Judge về vai trò của Tăng Tuyết Minh trong đời ông Hồ. Nhưng cũng như Duiker, trong cuốn “Ho Chi Minh: The Missing Years” của Giáo sư Judge có nhiều “sự thật về Hồ Chí Minh” to lớn và quan trọng hơn nhiều, và lẽ dĩ nhiên, những người làm DVD cũng không muốn nhắc tới. Trong phần cuối của bài này tôi sẽ trích dẫn một vài đoạn ngắn của hai tác giả trên về ông Hồ.



Màn Kịch 7 của DVD “Sự Thật Về Hồ Chí Minh”.



Vấn đề tiêu diệt các đảng phái quốc gia với những lời “tố Cọng” quen thuộc của Bùi Diễm, Trần Gia Phụng, Nguyễn Tường Bách. Bỏ qua, vì thời Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa đã qua lâu rồi.



Màn Kịch 8 của DVD “Sự Thật Về Hồ Chí Minh”.



Vấn đề “cải cách ruộng đất” với Nguyễn Minh Cần, Dương Thu Hương, Trần Mạnh Hảo, Vũ Thư Hiên kể chuyện cổ tích, không phân biệt nổi đâu là chính sách và đâu là những sai lầm trong khi thực hành. Con số người bị giết trong DVD là trên 170 ngàn, viện dẫn con số của chính CS đưa ra, nhưng xuyên tạc, vì con số này là tổng số những người bị quy vào hàng địa chủ chứ không phải là số người bị giết.

Chắc chắn là mấy ông bà này chưa hề đọc đến những công cuộc khảo cứu rất sâu rộng về Cải Cách Ruộng Đất ở Việt Nam: Mục đích, kết quả, số nạn nhân v..v.. của Gareth Porter, Edwin E. Moise, Noam Chomsky và Edward S. Herman. Rất có thể họ chỉ tin vào con số đoán mò của Hoàng Văn Chí, người đã thú nhận là con số nạn nhân trong cuộc cải cách ruộng đất chỉ là đoán mò sau khi bị Gareth Porter công khai vạch ra những sự giả mạo trong tài liệu của Chí [Chi eventually conceded that his number of victims of the land reforms to be merely a “guess” (The Washington Post, 13 September, 1972). This admission came after Porter had made Chi’s falsification public.] và đã có lần Minh Võ đưa ra con số người bị giết trong cuộc cải cách ruộng đất là “nửa triệu”. Vậy giá trị trí thức của Hoàng Văn Chí và Minh Võ là ở chỗ nào?

Theo những tài liệu của Noam Chomsky và Edward S. Herman cũng như của Gareth Porter và Edwin E. Moise thì Hoàng Văn Chí vốn là một địa chủ ở ngoài Bắc, sau đó làm cho Bộ Thông Tin của Chính Quyền miền Nam, rồi làm việc cho CIA và làm thông dịch viên cho Cơ Quan Thông Tin Hoa Kỳ. Trong bài “The Myth of the Bloodbath: North Vietnam’s Land reform Reconsidered” (Bulletin of Concerned Asian Scholars, September 1973, pp. 2-15), Gareth Porter đã vạch ra vài đoạn Hoàng Văn Chí dịch sai bài thú nhận có sai lầm trong việc thi hành cải cách ruộng đất của Tướng Võ Nguyên Giáp với mục đích giúp quan thầy Mỹ và miền Nam tuyên truyền xuyên tạc.

Noam Chomsky và Edward S. Herman còn vạch ra rằng, trong những cuộc phỏng vấn vào năm 1955, Hoàng Văn Chí không hề nói gì đến cuộc cải cách ruộng đất và con số những nạn nhân. Chỉ trong vài năm sau, sau khi Mỹ và Saigon biết đến những vấn đề trong cuộc cải cách ruộng đất từ chính những cuộc thảo luận trên báo chí ở Hà Nội mà Moise cho là “thẳng thắn kỳ lạ trong sự thảo luận những sai lầm và thất bại” (sometimes extraordinarily candid in discussing errors and failures), Chí mới “nhớ lại” những điều viết trong tài liệu của mình. Do đó, chỉ nhờ vào những thông tin của chính Bắc Việt cho nên Mỹ và Nam Việt Nam mới dựa vào đó để mà thổi phồng con số cho mục đích tuyên truyền, chứ thực ra Mỹ và chính quyền miền Nam chẳng biết gì về cuộc cải cách ruộng đất ở ngoài Bắc.

Noam Chomsky và Edward S. Herman viết trong cuốn The Political Economy of Human Rights, Vol. I, South End Press, Boston, 1979, trang 342:

“Nguồn thông tin căn bản về những con số giết chóc lớn trong cuộc cải cách ruộng đất ở Bắc Việt là từ những người của CIA hoặc Bộ Thông Tin Tuyên Truyền Saigon. Theo một người Việt Công giáo nay sống ở Pháp, Trung Tá Nguyễn Văn Châu, Chỉ Huy Cơ Quan Chiến Tranh Tâm Lý Trung Ương của quân đội Saigon từ 1956 đến 1962, số nạn nhân bị “tắm máu” trong cuộc cải cách ruộng đất là “100% dựng lên” bởi cơ quan tình báo Saigon. Theo Trung Tá Châu, một chiến dịch có hệ thống dùng các tài liệu ngụy tạo để bôi nhọ đối phương được thi hành vào giữa thập niên 1950 để biện minh cho sự kiện là Diệm từ chối không thương thuyết với Hanoi trong việc sửa soạn tổ chức cuộc bầu cử để thống nhất đất nước quy định vào năm 1956.”

(The basic sources for the larger estimates of killings in the North Vietnamese land reform were persons affiliated with the CIA or the Saigon Propaganda Ministry. According to a Vietnamese Catholic now living in France, Colonel Nguyen Van Chau, head of the Central Psychological War Service for the Saigon Army from 1956 to 1962, the “bloodbath” figures for the land reform were “100% fabricated” by the intelligence services of Saigon. According to Colonel Chau, a systematic campaign of vilification by the use of forged documents was carried out during the mid-1950s to justify Diem’s refusal to negotiate with Hanoi in preparation for the unheld unifying elections originally scheduled for 1956)

Giáo sư sử học James P. Harrison cũng viết trong cuốn The Endless War: Vietnam Struggle For Independence, Columbia University Press, 1989, trang 149:

“Tuy nhiên, những cuộc nghiên cứu kỹ về sau đã ước tính là con số những người bị giết trong cuộc cải cách ruộng đất ở ngoài Bắc là vào khoảng 1500 cộng với 1500 bị cầm tù, theo một tác giả, hoặc có thể lên tới 15000 theo một tác giả khác, và do đó hầu hết những con số tuyên truyền của Saigon về vấn đề này là những con số phóng đại nếu không phải là hoàn toàn dựng đứng.” (Careful later studies, however, have estimated that the true figures for those executed in the noerthern land reform may have been more like 1500 plus 1500 jailed according to one, or possibly up to 15000 killed according to another, and therefore that most of Saigon’s propaganda on the subject was exaggerated if not a “total fabrication”.)

Giáo sư Pierre Brocheux viết trong bài “Con Người Trở Thành Hồ Chí Minh” [L’Homme qui devint Ho Chi Minh] trang 34:

“Đối với Hồ Chí Minh, tập thể hóa đất đai là sự bảo đảm phân chia đồng đều tài sản. Nhưng ông ta tố cáo sự dùng những hành phạt thể xác đối với các địa chủ và các nông dân giàu có và yêu cầu thi hành một chương trình sửa sai những sự bất công và phục hồi những sở hữu của nông dân thuộc quyền của họ (1956). Nhưng ông ta phải nhượng bộ trước đa số trong Đảng. Chiến dịch cải cách ruộng đất làm cho ít nhất là 15000 người chết.” (Pour Ho Chi Minh, la collectivisation des campagnes est la garantie d’une répartition égalitaire des resources. Mais il dénonce l’utilisation des peines corporelles contre les “propriétaires fonciers et riches paysans” et demande une programme de correction des injustices et la restauration des paysans propriétaires dans leurs possessions et leurs droits (1956). Il s’incline pourtant devant la majorité du Parti. La réforme agraire côutera la vie à 15000 personnes au moins.)

Về con số nạn nhân trong cuộc cải cách ruộng đất, chúng ta có một số tài liệu khác: Của Gareth Porter: từ 800 đến 2500; của Edwin E. Moise (sau một công cuộc nghiên cứu sâu rộng hơn): vào khoảng 5000 và chắc chắn trong khoảng từ 3000 đến 15000; của Trương Như Tảng, David Chanoff và Đoàn Văn Toại trong cuốn “A Viet Cong Memoir”: nhiều ngàn (thousands); của Bùi Tín trong Mặt Thật: “lên tới mười mấy ngàn”; của Vũ Thư Hiên: từ 4000 đến 5000. Chúng ta không thể biết chính xác con số bị giết trong cuộc cải cách ruộng đất. Nhưng xét đến số làng mạc, ruộng đất ở ngoài Bắc, số địa chủ thực sự, số nông dân nghèo khổ phải thuê đất [một số của Nhà Chung] để cầy cấy v..v.. thì những con số trên hợp lý hơn là con số trên 170 ngàn, nghĩa là thổi phồng từ 1133% đến 34000%, trong DVD.

Trên diễn đàn Đông Dương Thời Báo, tháng 5, 2006, chúng ta có thể đọc một đoạn về cải cách ruộng đất của chủ biên người Công Giáo, Giu-se Phạm Hữu Tạo, như sau:

Thật vậy, Hồ Chí Minh thực hiện cải cách ruộng đất, muốn lấy lại đất mà không phải giết nhiều người, vì lúc đó các địa chủ có tiền bạc tài sản, chạy thoát trước về vùng Pháp chiếm đóng… Cải cách ruộng đất là việc phải làm ở trong Nam cũng như ngoài Bắc. Phải lấy lại đất của Pháp, của nhà Chung để chia cho cán bộ và nông dân có sức lực và siêng năng cần cù mà không có đất để sống và cày bừa và hy sinh cho cách mạng quyết dành chủ quyền - độc lập - thống nhất đất nước … Chính sách cải cách ruộng đất đương nhiên là đụng đến Giáo hội và giáo dân Công giáo Việt gian, cho nên chúng ta không lạ gì tại sao người Công giáo căm thù CSVN và ngụy tạo bôi đen chính sách Cải Cách Ruộng Đất.

Trong một cuộc phỏng vấn của đài BBC, trước câu hỏi: “Vậy vai trò của ông Hồ chí Minh trong Cải Cách Ruộng Ðất là gì, theo những gì ông tìm ra? “ , Giáo sư Pierre Brocheux đã trả lời:

Pierre Brocheux: Hồ chí Minh bị coi là phải chịu trách nhiệm về những sai lầm trong Cải Cách Ruộng Ðất nhưng tôi tìm thấy nhiều tài liệu như các báo cáo chính trị của chính ông, lên án các vụ đánh người, giết người trong Cải Cách. Ông gọi làm như thế là hành xử như " bọn đế quốc ", rằng đó là những hành vi tội phạm. Ông nói tra tấn người là tội ác.



Màn Kịch 9 của DVD “Sự Thật Về Hồ Chí Minh”.



DVD: Tết Mậu Thân dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh [sic]. Lèm bèm chuyện cũ, nhưng đọc giả nào muốn biết về sự thực về cuộc tàn sát người dân của CS trong cuộc tấn công Tết Mậu Thân thì hãy nên tìm đọc bài nghiên cứu chi tiết “THE 1968 'HUE MASSACRE' “ của Tiến sĩ Gareth Porter trong "Indochina Chronicle" #33, June 24, 1974. Quý vị sẽ thấy rằng những con số mà DVD đưa ra đều nằm trong những thủ đoạn ngụy tạo, cố ý diễn giải sai tài liệu bắt được của MTGP, phóng đại con số của Douglas Pike, nhân viên Phòng Thông Tin Hoa Kỳ, và của chính quyền miền Nam. Quý vị trong DVD cũng nên đọc cuốn “ The Political Economy of Human Rights” của Noam Chomsky và Edward S. Herman, Chương 5: “Bloodbaths in Indochina: Constructive, Nefarious and Mythical”, đặc biệt là những Mục 5.1.1: French and Diemist Bloodbaths; 5.1.2: The Overall Assault as the Primary Bloodbath; 5.1.4: The 43-Plus My Lais of the South Korean Mercenaries; 5.2.2: Land Reform in the Mid-Fifties; 5.2.3: The Hue Masscre of 1968. Bài “The Hue Masscre of 1968” đã được Lê Hồng Phong trích dịch ra tiếng Việt và đăng, có kèm theo bản tiếng Anh, trên trang nhà nhandanvietnam: http://www.nhandanvietnam.org/view.php?storyid=545, và được đăng lại trên trang nhà sachhiem: http://sachhiem.net/SACHNGOAI/LeHongPhong.php



Màn Kịch 10 của DVD “Sự Thật Về Hồ Chí Minh”



DVD: Về tác giả cuốn “Ngục Trung Nhật Ký” và ông Hồ chính là Trần Dân Tiên và T. Lan, viết sách để tự ca tụng. Một chi tiết trong DVD là, khi được hỏi về cuốn “Ngục Trung Nhật Ký” thì ông Hồ phá ra cười, không xác nhận mình là tác giả, chỉ nói là, khi rảnh rỗi ông cùng với các đồng chí làm thơ chơi. Điều này được dẫn giải là ông Hồ đã lảng tránh câu hỏi. Về Trần Dân Tiên chính là ông Hồ, những người chống Cọng dựa vào một tiết lộ của đảng CS vào năm 1976, 7 năm sau khi ông Hồ đã mất. Tôi không loại bỏ điều này nhưng tôi thắc mắc về một câu trong đó: “Ông Nguyễn không đủ tiếng Pháp để viết và phải khẩn khoản yêu cầu ông Phan Văn Trường viết thay. Ông Trường viết giỏi, nhưng không muốn ký tên. Mà chính ông Nguyễn đã phải ký tên những bài báo.” Tôi không nghĩ là một người đầu óc như ông Hồ, viết một cuốn sách để tự ca tụng, mà lại hạ thấp khả năng của mình như trên, hơn nữa chi tiết này có thể là sự thật nhưng có cần thiết phải cho vào cuốn sách hay không? Có một đọc giả trên Internet cho rằng cuốn Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch có khả năng là của một hay nhiều cán bộ văn hóa viết chứ không phải ông Hồ. Điều này có vẻ hợp lý hơn. Theo tài liệu của Lữ Phương thì:

Trần Dân Tiên có phải là bút danh của Hồ Chí Minh như bấy lâu nay người ta vẫn cho là như vậy? Gần đây, bà Phan Thị Minh đã đưa ra một thông tin mới rất đáng chú ý như sau:

“Chiều ngày 2 tháng 3 năm 1993, tôi đã được gặp ông Vũ Kỳ là thư ký riêng của Bác từ Cách mạng tháng Tám đến ngày Bác qua đời và đã cùng một số người quanh Bác là đồng tác giả cuốn “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch” với bút danh Trần Dân Tiên”

Nhưng tại sao đảng lại tiết lộ Trần Dân Tiên chính là ông Hồ. Một giải thích trong DVD là đảng CS muốn đưa ông Hồ lên như là một nhà văn hóa để vận động với Liên Hiệp Quốc tôn vinh ông Hồ nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông Hồ. Đảng tiết lộ 7 năm sau khi ông Hồ đã mất. Có lẽ muốn biết sự thật, chúng ta phải đối chiếu cách hành văn, những từ trong cuốn sách với những gì chúng ta biết qua những bài viết, lời tuyên bố v…v… của ông Hồ. Tôi không có cuốn sách trên và cũng không có hứng thú đi vào việc phân tích này.



Màn Kịch 11 của DVD “Sự Thật Về Hồ Chí Minh”



Về Hiệp Ước Biên Giới. Văn kiện về Hiệp Ước Biên Giới giữa Việt Nam và Trung Quốc đã được bạch hóa. Và lẽ dĩ nhiên, theo DVD thì đảng CS VN đã bán đất cho Trung Quốc, nhưng đó là sự thật về Hồ Chí Minh hay sao?. Việt Nam có phần thiệt thòi trong hiệp ước này, thiệt thòi bao nhiêu? Theo Lữ Giang thì:

- Trên tuyến đường sắt: Khi phục hồi đường sắt từ biên giới Việt – Trung đến Yên Viên (gần Hà Nội) cho Việt Nam, Trung Quốc đã đặt điểm nối rây giữa hai nước sâu vào lãnh thổ Việt Nam thêm 300m và coi đây là biên giới giữa hai nước!

- Trên tuyến đường bộ: Trung Quốc cho ủi sập cột mốc biên giới số 18 trước Ải Nam Quan, cách ải này 100m, trên đường Quốc lộ 1, rồi đặt cột km số 0 của quốc lộ này vào sâu trên lãnh thổ Việt Nam 100m và coi đó là cột mốc biên giới giữa hai nước. Như vậy, theo Công Ước Thiên Tân, cột mốc biên giới chỉ cách Ải Nam Quan của Trung Quốc 100m, nhưng Trung Quốc đã sửa thành 200m!

Theo một nguồn tin thì Trung Quốc và Việt Nam đã thỏa thuận cắm những mốc biên giới theo suốt chiều dài của biên giới. Chuyện chính trị quốc tế không phải là chuyện khơi khơi để chúng ta, ở trong nước cũng như ở hải ngoại, có thể quyết đoán thế này hay thế nọ. Ai rảnh rổi hay ai muốn làm “cán bộ tuyên truyền”, dựa vào những thông tin chủ quan để “bình loạn” thì đó là quyền của họ. Nhưng có một điểm liên quan đến lịch sử chúng ta cần phải để ý.

Từ ngàn xưa cho đến thời của Đặng Tiểu Bình, Trung Quốc luôn luôn coi Việt Nam là một phần đất của họ, một “thuộc bang” giống như Triều Tiên khi xưa. Và nếu có cơ hội thuận tiện là họ có thể thu về Trung Quốc bất cứ lúc nào. Nhưng nay, Hiệp Ước Biên Giới đã rõ ràng trước cộng đồng quốc tế, khả năng Trung Quốc xâm lăng quân sự đã bớt đi nhiều tuy rằng ngày nay, điều này không mấy khó khăn đối với Trung Quốc. Hiển nhiên là nằm ngay dưới một khối vĩ đại bá quyền như Trung Quốc, Việt Nam vẫn còn phải chịu thiệt thòi dưới những áp lực kinh tế và chính trị. Nhưng trên bình diện quốc tế, Việt Nam nay là một nước độc lập, có chủ quyền, có lãnh thổ riêng, được thế giới công nhận, có một văn kiện pháp lý có tính quốc tế để phân định biên cương rỏ ràng, thì đổi lấy sự thiệt thòi về biên giới cũng còn hơn không. Tôi cho rằng nếu nghĩ đến tương lai đất nước, giảm thiểu sự phập phòng lo sợ nạn Bắc xâm, thì cũng đáng.



Màn Kịch 12 của DVD “Sự Thật Về Hồ Chí Minh”.



DVD nêu vấn đề “Tư tưởng Hồ Chí Minh” trong khi chính ông Hồ đã nói là chẳng có tư tưởng nào.

Cho nên, trong DVD, có vài người đã phê bình là ông Hồ không có tư tưởng nào nhất quán, mà thay đổi luôn luôn, khi thì theo Wilson, khi thì Tôn Dật Tiên, khi thì Marx, Mao, Lê-nin v…v… Điều này có thể đúng, nhưng vì vậy mà phê bình ông Hồ thay đổi như con tắc kè, thì đó là một phê bình rất hời hợt, thiếu nghiêm túc và không chuyên nghiệp (unprofessional). Vì họ không hiểu ông Hồ là một con người “thỏa hiệp” (compromise) chứ không phải là “giáo điều” (dogmatic), con người thực tiễn trong hành động chứ không giáo điều trong tư tưởng, miễn sao đạt được mục đích đuổi quân xâm lăng để cứu nước của ông. Bất cứ ý tưởng nào mà ông Hồ thấy có thể áp dụng để thực hiện mục đích tranh đấu giành độc lập cho Việt Nam thì ông ta chấp nhận. Rồi nếu thấy không có hiệu quả thì ông bỏ. Pha trộn từ các tinh hoa trong các luồng tư tưởng thế giới, ông ta đã thành công thực hiện được mục đích trên của ông ta. Các học giả nghiên cứu về ông Hồ đều đồng ý ở điểm này.

Mặt khác, vấn đề là chúng ta định nghĩa thế nào là tư tưởng. Nếu chúng ta hiểu tư tưởng là một thuyết lý hay một hệ thống triết học thì chắc chắn là ông Hồ không có thứ tư tưởng này. Nhưng nếu chúng ta hiểu tư tưởng là những suy tư sâu thẳm của con người về quốc gia, dân tộc, xã hội và chính trị quốc tế thì ông Hồ quả có rất nhiều tư tưởng, và nếu thực hiện những tư tưởng này trong xã hội thì không phải là điều không hay cho quốc gia dân tộc. Đề tài này quá rộng, tùy theo người ta hiểu tư tưởng của ông Hồ như thế nào. Nếu chúng ta vào Internet, đánh cụm từ “Tư tưởng Hồ Chí Minh” thì sẽ thấy hiện ra rất nhiều ý kiến, thảo luận về chủ đề này. Theo một bạn trẻ trên Internet thì có lẽ chúng ta nên bỏ qua những gì thuộc thần thánh hóa Ông Hồ và chỉ nên đào sâu những ý nghĩ của ông Hồ về quốc gia, dân tộc, có thể áp dụng những gì trong việc xây dựng đất nước. Tôi đồng ý với ý kiến này và đơn cử vài thí dụ về “tư tưởng” của ông Hồ.

Ông Hồ rất quan tâm đến vấn đề giáo dục quần chúng, ngay sau khi lên cầm quyền ông đã tích cực phát động phong trào “truyền bá quốc ngữ”. Ngày nay các em học sinh ở Việt Nam đều phải học 5 câu về tiêu chuẩn giáo dục của ông Hồ:

http://vi.wikipedia.org/wiki/

Yêu tổ quốc, yêu đồng bào

Học tập tốt, lao động tốt

Đoàn kết tốt, kỷ luật tốt

Giữ gìn vệ sinh thật tốt

Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm

Tết Trung Thu năm 1946, ông Hồ gửi một thông điệp cho các thiếu nhi, đại khái như sau, dịch từ “Ho Chi Minh” của Jules Archer, trang 53-54::

Các cháu ngoan… Hôm nay là ngày Tết Trung Thu. Cha mẹ các cháu đã mua cho các cháu đèn, trống, pháo, hoa v..v… Các cháu đang vui đùa và Bác Hồ của các cháu cũng chung vui với các cháu. Các cháu có biết tại sao không? Thứ nhất vì Bác yêu các cháu vô cùng. Thứ nhì, vì năm ngoái…đất nước của chúng ta vẫn còn đang sống trong sự đàn áp và các cháu vẫn còn là những nô lệ nhỏ… Ngày hôm nay, các cháu hãy vui đùa thỏa thích. Ngày mai, Bác hi vọng các cháu hãy đề hết tâm trí vào việc học hành… Năm nay Bác không có quà gì cho các cháu. Bác chỉ có thể gửi cho các cháu những nụ hôn thân yêu của Bác.

Jules Archer phê bình: “Đối với hầu hết các bậc cha mẹ Việt Nam, chừng đó cũng đủ” (For most Vietamese parents, that was enough).

Có một bài rất đặc sắc của Lê Cường viết về “Yếu tố tâm linh trong tư tưởng Hồ Chí Minh”. Bài viết này chứng tỏ ông Hồ không phải là người “vô thần”, trái lại bản thân ông có những niềm tin tôn giáo truyền thống của Việt Nam.

Tinh thần quốc gia của ông Hồ rất mạnh. Trong bức thư trả lời Tổng Thống Lyndon B. Johnson vào tháng 2, 1967, có đoạn sau đây:

Người dân Việt Nam yêu quý sâu đậm nền độc lập, tự do và hòa bình. Nhưng trước sự xâm lăng của Mỹ, tất cả đã đứng giậy, muôn người như một, không ngại hi sinh và gian khổ: Họ quyết định tiếp tục kháng chiến cho đến khi giành được độc lập thực sự và tự do, hòa bình..

Người dân Việt Nam sẽ không bao giờ chịu khuất phục trước vũ lực: họ sẽ không bao giờ chấp nhận sự đàm phán dưới sự đe dọa của bom đạn.

[Jack Woddis, Ho Chi Minh: Selected Articles and Speeches, 1920-1967, p. 171: The Vietnamese people deeply love independence, freedom and peace. But in the face of the U.S. aggression, they have risen up, united as one man, fearless of sacrifices and hardships: They are determined to carry on their Resistance until they have won genuine independence and freedom and true peace…

The Vietnamese people will never submit to force: they will never accept talks under the threat of bombs.]

Có những câu nói của ông Hồ mà người dân khó có thể quên được và cảm thấy cần phải truyền lại cho các thế hệ sau. Điển hình là:

* Không có gì quý hơn độc lập, tự do!
* Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người.
* Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một; sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi.
* Tôi chỉ có một Đảng: Đảng Việt Nam.
* Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước.



Màn Kịch 13 của DVD “Sự Thật Về Hồ Chí Minh”



DVD phỏng vấn một vài người về “Di Sản Hồ Chí Minh”. Chỉ tiếc rằng những người được phỏng vấn mỗi người hiểu “di sản” một khác, và nhiều khi rất ngớ ngẩn. Tôi chỉ kể mấy quan niệm kỳ quặc về “di sản Hồ Chí Minh” của mấy người được phỏng vấn:

- Gây nên cái chết của 3 triệu người [sic]

- Hồ Chí Minh phát động cuộc chiến tranh xâm chiếm miền Nam…[sic] (Nguyễn Minh Cần)

- Di sản gian dối, gian dối từ năm sinh…[sic] (Nguyễn Ngọc Bích)

Vậy thì “di sản Hồ Chí Minh” thực sự là cái gì? Đơn giản thôi. Cái di sản mà ông Hồ Chí Minh để lại cho người dân Việt Nam là một nước Việt Nam độc lập và thống nhất, và niềm hãnh diện quốc gia. Lẽ dĩ nhiên đây không phải là công của mình ông Hồ mà là của toàn dân, ít ra là của đại đa số người Việt đã coi ông Hồ như là biểu tượng truyền thống yêu nước của người Việt Nam, do đó đã không ngại mọi hi sinh để đạt thành. Nhưng quan trọng hơn là thế giới đã biết nhiều hơn về Việt Nam và không còn dám coi thường Việt Nam tuy Việt Nam vẫn còn là một nước tương đối nghèo và kém phát triển.

Trong cuốn Ho Chi Minh: Legend of Hanoi, tác giả Jules Archer viết, trang 190:

Một trong những thành quả vĩ đại của ông là, cũng như Tito, ông đã đạt thành một “Cộng sản quốc gia”, giữ cho nước của ông ta ở ngoài những móng vuốt của cả Trung Hoa Đỏ và Liên Bang Sô Viết, trong khi ông ta khôn khéo đi hàng đôi để có được sự giúp đỡ mà nước ông cần đến. Khi ông ta mất, Việt Nam không phải là một nước chư hầu, mà là một nước độc lập đầy hãnh diện, cương quyết trên sự thiết lập cá tính quốc gia cho mọi người Việt Nam…

[Not the least of his great achievements was that he had, like Tito, achieve a “national Communism” which kept his country out of the grip of both Red China and the Soviet Union, while he skillfully played one off against the other to get the help his country needed. When he died, North Vietnam was no satellite but a proud, independent country, determined on nationhood for all Vietnamese…]

http://www.time.com/time/magazine/article/0,9171,901394,00.html? :

Khi Chủ tịch Bắc Việt Nam chết về một cơn đau tim ở Hà Nội lúc 79 tuổi, ông ta đã để lại một di sản gây ấn tượng sâu sắc về những thành quả của ông ta. Ông đã khôi phục được ý nghĩa quốc gia cho Việt Nam. Ông đã là biểu thị của một dạng “cọng sản quốc gia” giữ cho ông ra khỏi quỹ đạo của cả Trung Quốc lẫn Nga Sô, nhưng làm cho hai cường quốc này phải ve vãn ông ta.

[When North Viet Nam's President died of a heart attack in Hanoi at the age of 79, he left an impressive legacy of accomplishment. He had restored a sense of nationhood to Viet Nam. He had come to represent a form of "national Communism" that left him out of both the Chinese and the Soviet orbits, but prompted both powers to court him.]



Màn Kịch 14 của DVD “Sự Thật Về Hồ Chí Minh”



Bây giờ chúng ta hãy sang phần mấy ông triết gia, văn sĩ Tây phương nói về Hồ Chí Minh trong phần cuối: Nhận Định Tổng Hợp. DVD cho chúng ta có cảm tưởng là đang phỏng vấn những vị này. Trên màn ảnh chúng ta chỉ thấy các vị đó nói vài câu không rõ rồi bước sang phần diễn giải bằng tiếng Việt, người xem cũng không biết là phần diễn giải bằng tiếng Việt này có đúng như là người trong DVD nói không..

Nhưng thật ra đây chỉ là những mẩu phim không biết những người làm DVD lấy ở đâu, từ bao giờ. Điển hình là với Jean Francois Revel, người đã chết hơn 3 năm trước đây, tháng 4, 2006. Câu tiếng Việt của Jean Francois Revel là:

“Mục tiêu đấu tranh của HCM không phải là độc lập của VN mà là sát nhập VN vào Quốc Tế CS.”

Đây là một câu trong bài “Ho Chi Minh, l’homme et son héritage” mà Jean Francois Revel viết năm 1990, ngay sau khi CS sụp đổ ở Tây phương vào năm 1989. Chúng ta cũng biết, Jean Francois Revel, Olivier Todd, Stéphane Courtois, cũng như Bùi Tín, Nguyễn Minh Cần v…v… đã là những người từng nồng nhiệt ủng hộ Cọng sản. Nhưng câu nhận định cũ kỹ của Jean Francois Revel như trên thì hoàn toàn sai, vì tất cả những tài liệu của các học giả nghiên cứu về Hồ Chí Minh đều cho rằng chẳng làm gì có chuyện ông Hồ sát nhập Việt Nam vào CS Quốc tế. Rất nhiều bằng chứng chứng tỏ rằng ông Hồ tuyệt đối không phải là người “bị chủ nghĩa Marx mê hoặc” (Bùi Tín); hay “hoàn toàn gắn bó với chủ Nghĩa CS” (Jean Sainteny); “trung thành vô điều kiện với Stalin” (Bernard Fall); hay “là một tay diệt chủng, có tội với dân tộc mình” (Nhà báo Balan Robert); hay “là tín đồ cuồng tín của chủ nghĩa CS” (Olivier Todd); hay “là một nhà độc tài có nhiều tham vọng” (Vũ Ngự Chiêu).. Những nhận định đầy cường điệu và cảm tính như trên không đáng để cho tôi phê bình.

Nhưng để thêm thông tin cho mấy bộ óc vĩ đại trên, chúng ta hãy đọc một số “sự thật về Hồ Chí Minh” của một số học giả đã được trích dẫn trong DVD và một số khác. Thường thường, trong một tác phẩm, phần kết là những nhận định tổng kết về chủ đề của sách. Vậy trước hết chúng ta hãy đọc vài đoạn trong phần Epilogue của Williams J. Duiker trong cuốn “Ho Chi Minh: A Life”. Tôi thực sự thấy những sự thật này quan trọng hơn là những sự thật về … Tăng Tuyết Minh, hay Nguyễn Thị Minh Khai nhiều.

Trong bản di chúc cuối cùng, cũng như trong cuộc sống, ông Hồ Chí Minh đã tìm cách cân bằng giữa sự hiến thân của ông ta cho nền độc lập của Việt Nam và sự cống hiến tương tự cho cách mạng thế giới. Trong tài liệu này mà ông ta thảo lần đầu vào năm 1965 và sau đó sửa đổi vào những năm 1968, 1969, ông ta đã khẳng định lại sự quan trọng của cả hai chủ nghĩa quốc gia và xã hội chủ nghĩa, tuy rằng ông nhấn mạnh về ưu tiên tức thời là hàn gắn những vết thương của chiến tranh và cải tiến mức sống của người dân Việt. Ông đặc biệt chú ý đến sự quan trọng của sự thực hiện nam nữ bình quyền. Ông ta khen tặng Đảng đã đóng vai trò chỉ đạo trong cuộc các mạng Việt Nam, nhưng kêu gọi một chiến dịch sửa sai và tự kiểm để dân chủ hóa tổ chức và nâng cao đạo đức của các cán bộ đảng sau cuộc chiến.

[Duiker: Epilogue, p.563: In his final testament, as in his life, Ho Chi Minh has sought to balance his commitment to Vietnamese independence with a similar dedication to the world revolution. In this document, which he first drafted in 1965 and then amended by hand in 1968 and 1969, he reaffirmed the dual importance of nationalism and socialism, although he emphasized that the immediate priority was to heal the wounds of war and improve the living standards of the Vietnamese people. He paid particular attention to the importance of realizing equality of the sexes. He praised the Party for having played the leading role in the Vietnamese revolution, but called for a campaign of rectification and self-criticism to democratize the organization and raise the level of morality among Party cadres after the end of the war.]

Đối với nhiều quan sát viên, điểm then chốt trong cuộc tranh luận về ông Hồ Chí Minh tập trung vào vấn đề nên đặt ông ta vào là một người Cọng sản hay một người quốc gia. Nhiều người quen biết ngoại quốc của ông ta nhấn mạnh ông ta là một người yêu nước hơn là một người cách mạng Mác-xít. Có vẻ như ông Hồ thừa nhận quan điểm này năm 1961, khi ông tuyên bố công khai là sự mong muốn cứu đồng bào của ông đã dẫn ông ta tới chủ thuyết Lê-nin. Trong khi ông bày tỏ điều này trong nhiều trường hợp khác, không có gì rõ ràng hơn là ý kiến của ông nói với viên sĩ quan tình báo Hoa Kỳ Charles Fenn vào năm 1945 là ông ta coi chủ nghĩa cọng sản như là phương tiện để đạt được mục đích quốc gia. Khi yêu cầu ông giải thích, ông Hồ đã trả lời:

“Trước hết, ông cần phải hiểu rằng giật độc lập ra khỏi tay một cường quốc như Pháp là một nhiệm vụ rất khó khăn mà người ta không thể hoàn thành mà không có một sự ngoại viện, không cần thiết phải là một sự viện trợ vũ khí mà dưới dạng cố vấn và tiếp xúc. Chúng ta không lấy lại được độc lập bằng cách ném bom hay bằng những hành động tương tự. Đó là sự sai lầm của những nhà cách mạng lúc đầu đã phạm phải [Có lẽ ông Hồ muốn nói đến cuộc ám sát thất bại của Phạm Hồng Thái đối với Toàn Quyền Merlin]. Chúng ta lấy lại độc lập bằng sự tổ chức và tự khép mình vào kỷ luật. Chúng ta cũng còn cần đến một lòng tin, một phúc âm, một sự phân tích thực tiễn, có thể nói đến như là một thánh kinh. Chủ thuyết Mác-Lênin đã cung cấp cho tôi đường lối hành động này.”

[Duiker, Epilogue, p. 569-570 : To many observers, the crux of the debate over Ho Chi Minh has centered on the issue of whether he should be identified as a Communist or a nationalist. Many of his foreign acquaintances insist that Ho was more a patriot than a Marxist revolutionary. Ho appeared to confirm this view in 1961, when he publicly declared that it was the desire to save his compatriots that initially led to Leninism. While he voiced such sentiments on numerous other occasions, there is perhaps no clearer exposition than his remark to the U.S. intelligence officer Charles Fenn in 1945 that he viewed communism as the means to reach nationalist end. When asked to explain himself, Ho replied:

First, you must understand that to gain independence from a great power like France is a formidable rask that cannot be achieved without some outside help, not necessary in thingd like arms, but in the nature of advice and contacts. One doesn’t in fact gain independence by throwing bombs and such. That was the mistake the early revolutionaries all too often made. One must gain it through organization, propaganda, training and discipline. One also needs.. a set of beliefs, a gospel, a practical analysis, you might even say abible. Marxism-Leninism gave me that frame work.]

Giống như các lãnh tụ Á Châu trong thời đó, kinh nghiệm của ông Hồ với chủ nghĩa tư bản không phải là những kinh nghiệm thoải mái, và những sự tàn bạo của chủ nghĩa thực dân mà ông ta quan sát trong những năm thiếu thời đã xúc phạm mạnh đến tình cảm của ông. Tuy nhiên, nhiều niềm tin triết lý của ông có vẻ như phù hợp với những lý tưởng Tây phương hơn là những lý tưởng của Karl Marx và Vladimir Lenin. Tuy ông thường tỏ ra vẻ một người Mác-xít chính thống với những đồng nghiệp, có vẻ như rõ ràng là ông ta không mấy quan tâm đến những vấn đề giáo điều và thường hay có những nỗ lực

chân thật để giảm bớt những khía cạnh cứng rắn khi áp dụng cho Việt Nam.

[Duiker, Epilogue, p. 576: Like many other Asian leaders of the day, his experience with capitalism was not a happy one, and the brutalities perpetrated by by Western colocialism that he observed during his early years deeply offended his sensibilities. However, many of his philosophical beliefs appear to be more compatible with Western ideals than with those of Karl Marx and Vladimir Lenin. Although he sought to portray himself to colleagues as an orthodox Marxist, it seems clear that he had little interest in doctrinal matters and frequently made sincere efforts to soften communism’s hard edges when applied in Vietnam. Nonetheless, as the founder of his party and the president of his country, Ho Chi Minh must bear full responsibility for the consequences of his actions, for good or ill. In the light of the conditions that prevail in Vietnam today, even many of his more ardent defenders must admid that his legacy is a mixed one.]

“Như vậy, ông Hồ Chí Minh là “người tạo thời thế” một “đứa con của sự khủng khoảng” đã tổ hợp trong người mình hai lực chính trong lịch sử hiện đại của Việt Nam: lòng mong muốn quốc gia độc lập và sự đòi hỏi của công lý xã hội và kinh tế. Vì những lực đó vượt ra ngoài biên giới quốc gia của ông, nên ông Hồ đã có thể gửi thông điệp của ông cho những dân thuộc địa trên khắp thế giới và nói lên tiếng nói thay cho họ, đòi hỏi thoát ra khỏi sự đàn áp của đế quốc. Bất kể cuối cùng người đời phán xét về di sản của ông [Hồ] để lại cho dân tộc mình ra sao, ông Hồ đã chiếm được một chỗ trong ngôi đền thờ những anh hùng cách mạng từng đấu tranh mạnh mẽ để những người cùng khổ trên thế giới có được tiếng nói đích thực của họ.”

[Duiker, Epilogue, p. 577: Ho chi Minh, then, was an “event-making man” a “child of crisis” who combined in his own person two of the central forces in the history of modern Vietnam: the desire for national independence and the quest for social and economic justice. Because these forces trancended the borders of his own country, Ho was able to project his message to colonial peoples all over the world and speak to their demand for dignity and freedom from imperialist oppression. Whatever the final judgment on his legacy to his own people, he has taken his place in the pantheon of revolutionary heroes who have struggled mightily to give the pariahs of the world their true voice.]

Sau đây, xin thêm một đoạn Duiker viết về cái chết của ông Hồ:

“Khi tin tức về cái chết của ông Hồ Chí Minh được loan truyền thì khắp địa cầu đưa ra nhận xét về ông. Hà Nội nhận được tới hơn hai mươi hai ngàn (22000) bức điện tín từ các thủ đô lớn của 121 quốc gia trên thế giới để bày tỏ lời ca ngợi ông và chia buồn với nhân dân Việt Nam. Một số các nước theo chủ nghĩa xã hội tổ chức buổi lễ truy điệu ông và đưa ra những lời ca tụng ông. Thủ đô Mạc Tư Khoa chính thức ca tụng ông như là “người con vĩ đại của dân tộc anh hùng Việt Nam, một người lãnh đạo xuất sắc của phong trào giải phóng dân tộc và cộng sản quốc tế, và là người bạn vĩ đại của Liên Bang Sô Viết.” Các nước trong Thế Giới Thứ Ba (các nước trung lập) cũng nhận xét về ông với những lời ca tụng ông như là một người bảo vệ những người bị áp bức. Một bài báo phát hành ở Ấn Độ mô tả ông như là tinh túy của “dân tộc và là hiện thân của lòng khát vọng tự do, của sự tranh đấu bền bỉ.” Những bài báo khác đề cao đức tính giản dị và thẳng thắn của ông. Một bài xã luận trong một tờ báo ở Uruguay (Nam Mỹ) ghi nhận “Ông có một tấm lòng bao la như vũ trụ và có một tình thương vô bờ bến đối với các trẻ em. Ông là gương mẫu về đức tính giản dị và thẳng thắn trong tất cả mọi phạm vi.”

Phản ứng từ các thủ đô Tây Phương thì không biểu lộ mạnh mẽ. Tòa Bạch Ốc lặng thinh và các viên chức cao cấp trong chính quyền của Tổng Thống Nixon cũng không bình luận gì cả. Nhưng việc chú ý đến cái chết cúa ông Hồ Chí Minh đối với giới truyền thông trong các nước Tây Phương thật là mãnh liệt. Những tờ báo ủng hộ các phong trào phản chiến có khuynh hướng mô tả ông bằng những lời lẽ ca tụng ông như là một địch thủ xứng đáng và là một người bảo vệ những kẻ yếu, những người lép vế thế cô và những người bị áp bức. Ngay cả những người vẫn thường khăng khăng chống lại chế độ Hà Nội cũng đánh giá ông bằng những lời lẽ kính trọng ông như là một người đã tận hiến cả cuộc đời cho đại cuộc chiến đấu giành độc lập và thống nhất đất nước cho tổ quốc ông, coi ông như là người phát ngôn xuất chúng cho các dân tộc bị bóc lột ở trên thế giới.”

(Duiker, Epilogue, p.562: The news of Ho Chi Minh’ s death was greeted with a outpouring of comment from around the globe. Eulogies flowed in from major world capitals, and Hanoi received more than twenty-two thousand messages from 121 countries offering the Vietnamese people condolences for the death of their leader. A number of socialists states held memorial services of their own and editorial comment were predictable favorable. An official statement from Moscow lauded Ho as a “great son of the heroic Vietnamse people, the outstanding leader of the international Communist and national liberation movement, and a great friend of the Soviet Union.” From the Third World countries came praise for his role as a defender of the oppressed. An article published in India described him as the essence of “the people, the embodiment of the ardent aspiration for freedom, of their endurance and struggle.” Others referred to his simplicity of manner and high moral standing. Remarked an editorial in Uruguayan newspaper: “He had a heart as immense as the universe and in a boundless love for the children. He is a model of simplicity in all fields.”

Reaction from Western capitals was more muted. The White House refrained from comment, and senior Nixon administration officials followed suite. But attention to Ho’s death in the Western news media was intense. Newspapers that supported the antiwar cause tended to describe him in favorable terms as a worthy adversary and a defender of the weak and oppressed. Even those who had admandtly opposed the Hanoi regime accorded him a measure of respect as one who had dedicated himself first and foremost to the independence and unification of his country, as well as a prominent spokeperson for the exploited peoples of the world.”)

Trên đây, Duiker đã viết lên một sự kiện. Sự kiện này, hơn gì hết, đã loại bỏ tất cả những gì mà một số người Việt hải ngoại hay ở trong nước viết tiêu cực theo cảm tính về ông Hồ. Cho nên bất kể những luận điệu nhằm hạ uy tín của ông Hồ đều không thể thuyết phục được ai, ít nhất là trong giới hiểu biết và trong giới những công nhân nông dân tiểu thương lòng dạ chân chất, nhất là những luận điệu này lại thuộc loại hạ cấp, đầy hận thù, vụn vặt, chỉ nhắm vào những tiểu tiết mà không nhìn thấy những mặt to lớn của sự việc, và chỉ có thể lấy được sự đồng tình của một số người nhỏ nhoi cuồng tín, buôn bán hận thù, thu hẹp trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại..

DVD đã đưa tài liệu của Duiker trong cuốn Ho Chi Minh: A Life để chứng minh là ông Hồ có vợ. Chuyện nhỏ thôi mà. Để biết thêm về cuốn Ho Chi Minh: A Life của Duiker, chúng ta hãy đọc vài đoạn trong bài của Stanley I. Kutler điểm cuốn “Ho Chi Minh, A Life” [Kutler vốn là tác giả cuốn "The Wars of Watergate" và là chủ biên của "The Encyclopedia of the Vietnam War."]

Stanley Kutler cho rằng trong tác phẩm của mình, Duiker đã viết về “một nhà cách mạng ái quốc gần với Thomas Jefferson hơn là với V. I. Lenin” [A patriot closer to Thomas Jefferson than to V.I. Lenin]. (Điều này, không phải chỉ có mình Duiker mới nhận định như trên, mà một số tác giả Mỹ khác cũng có cùng một nhận định như vậy. TCN)

Trước hết, Kutler cho rằng chế độ thực dân đã cáo chung một thế kỷ nay rồi và vai trò của ông Hồ đã đi vào quá khứ. Ngày nay, Việt Nam là một phần của nền kinh tế toàn cầu, có nghĩa là có những liên doanh mang lại lợi nhuận cho chính phủ, cho một số viên chức được ưu đãi, và cho những công ty Tây phương. Nhưng Kutler ghi nhận là:

“Tuy nhiên, thế giới có một bộ mặt khác nhờ ông Hồ, và những người như ông, những người đã lo lắng, chiến đấu và hi sinh để giải phóng quốc gia của họ thoát khỏi sự sỉ nhục và gông cùm của sự chuyên chế bạo ngược ngoại quốc.” (Nevertheless, the world is a different place because of Ho, and others like him, who agitated, fought and died to liberate their lands from the stigma and yoke of foreign tyranny.)

Sau đó Kutler viết: “Duiker đã đi quá sự tranh luận đơn giản trong thời Chiến Tranh Lạnh về vấn đề ông Hồ là người Cộng sản theo chính thống Mác-Lênin hay là một nhà ái quốc quốc gia, hiến thân cho cuộc giải phóng và thống nhất đất nước?” (Duiker has moved beyond the simplistic Cold War debate of whether Ho was a dedicated Communist, beholden to Marxist-Leninist orthodoxy, or whether he was a patriot and a nationalist, dedicated to freeing and uniting his country.) “Duiker đã nhận định đúng, Hồ Chí Minh có căn rễ sâu đậm trong phong trào Cộng sản quốc tế, nhưng ông luôn luôn là một người quốc gia đã mang lại sự lãnh đạo, viễn kiến và sự cương quyết hiến thân cho nguyên lý dân tộc tự quyết “ (Duiker rightly notes that Ho had deep roots in the international Communist movement; but he was a constant nationalist who provided leadership, vision and a firm commitment to the principle of self-determination.)…

“Ông Hồ không hề nao núng khi dùng chủ nghĩa Cộng Sản cho những mục đích quốc gia. Lời tuyên bố của ông: “các dân ở Đông Dương vẫn sống và sẽ còn sống mãi” khó mà phù hợp với chủ nghĩa Mác. Duiker nhấn mạnh là, đối với ông Hồ, độc lập quốc gia bao giờ cũng là mục tiêu chủ yếu, trong khi chủ thuyết về một cộng sản không tưởng vẫn là một vấn đề mơ hồ, bất định cho tương lai” [Ho unabashedly used communism for his own nationalist ends. His statement that "the peoples of Indochina still live and will live forever" is hardly compatible with Marxism. Duiker insists that for Ho, national independence always was the primary goal, while the doctrine of a communist utopia remained a vague, indefinite matter for the future.] Duiker cũng nhắc lại cho chúng ta là rất tiếc vì những nhận định hời hợt về cuộc Chiến Tranh Lạnh mà Paris và rồi Washington đã thất bại không nắm lấy tay ông Hồ, để đưa đến những hậu quả sâu đậm cho người Việt Nam và cho thế giới (Duiker painfully reminds us that external Cold War considerations led to the failure of Paris and then Washington to grasp Ho's hand, resulting in profound consequences for the Vietnamese people and the world.)

Sau đây là những ý kiến của Giáo sư Sophie-Quinn Judge về ông Hồ Chí Minh, ngoài chuyện…Tăng Tuyết Minh trong DVD:

Trong cuộc phỏng vấn của đài RFI, Giáo sư Sphie-Quinn Judge nói:

Qua những năm được nghiên cứu trong quyển sách này, ông Hồ chí Minh rõ ràng là một người đã có quyết tâm và đã khéo léo vận động cho nền độc lập của nước Việt Nam. Từ Hội Nghị Hòa Bình Paris năm 1919 cho đến năm 1945 khi ông đọc tuyên ngôn độc lập. Ðộng cơ thúc đẩy ông Hồ Chí Minh là một lòng yêu nước thành thật và một thái độ căm ghét đế quốc Pháp. Tuy nhiên ông Hồ Chí Minh không phải là một người Cộng sản thánh thiện. Ông đã nhiều lần chung sống với phụ nữ, sẵn sàng thỏa hiệp và thâm nhập vào các đảng phái khác. Mức độ tin tưởng vào Chủ Nghĩa Cộng Sản của ông rất khó đo lường, nhưng điều người ta có thể nói là ông Hồ Chí Minh rất ít chú ý đến giáo điều "

Trong phần kết của cuốn Ho Chi Minh, The Missing Years, Giáo sư Judge viết:

Bằng chứng từ tài liệu của Moscow lẫn của Pháp đều cho rằng Quốc tế Cọng Sản đã không hề là một công cụ đắc lực để truyền bá quyền lực của Cọng sản mà giới khoa học chính trị và lịch sử thời Chiến Tranh Lạnh muốn chúng ta tin vào. Nó cũng không nhất quán trong việc ủng hộ những phong trào chống thuộc địa. Nhưng mối liên hệ mà ông Hồ đã tạo dựng với Quốc tế Cọng sản đã đóng một vai trò chủ đạo trong việc phát triển chủ nghĩa Cọng sản cũng như phong trào độc lập quốc gia tại Việt Nam. Quốc tế Cọng sản đã cung cấp cho ông Hồ và những đồng chí của ông phương pháp cũng như tài chánh trong việc đào tạo những cán bô tổ chức và tuyên truyền; nó đã giúp họ phân tích để hiểu tình trạng của họ trong tay của người Pháp. Mặc dù sự can thiệp và cố vấn của nó không luôn luôn được chấp nhận , khi còn hoạt động nó vẫn được vị thế trọng tài tối cao trong những tranh chấp chính trị quốc tế, điều này đã giúp đảng Cọng sản phần nào giữ vững được tình đoàn kết. Nó cũng đã cung cấp nơi nương tựa cho những học viên Cọng sản tại Moscow để họ có thể quay về Việt Nam xây dựng lại Đảng Cọng sản Đông Dương vào những năm đầu 1930. Ngay cả việc ông Hồ bị đối xử lạnh nhạt tại Moscoe từ năm 1934 đến năm 1938 cũng đã cứu sống ông để ông tiếp tục chiến đấu. Nhưng nếu cho rằng ông Hồ Chí Minh và Đảng Cọng sản Đông Dương chỉ đơn thuần là những sản phẩm của Quốc tế Cọng sản thì điều này là bóp méo sự thật. Họ tồn tại một cách song song trong những phạm vi khác nhau – xã hội truyền thống của Việt Nam, đế chế Pháp, tổ chức Nam Dương và cộng đồng thế giới mà trong những năm 1920 và 1930 đã bị bó gọn bởi những phương tiện thông tin hiện đại việc phụ thuộc lẫn nhau về giao thông và kinh tế. Chính khả năng có thể chuyển vận giữa những lãnh vực khác nhau của Hồ Chí Minh cuối cùng đã giúp ông giữ vững được vị thế của mình như là một nhà lãnh đạo thành công nhất trong cuộc đấu tranh giành độc lập.

Tiếp theo, chúng ta hãy bước sang phần những ý kiến của Pierre Brocheux, Giáo sư Diễn Giảng Danh Dự tại Đại Học Denis-Diderot, Paris-VII. Trước hết là trong vài cuộc phỏng vấn.

Trong cuộc phỏng vấn của đài RFI, Giáo sư Pierre Brocheux phát biểu:

Tôi cố gắng mô tả thật xác thực con người của ông Hồ Chí Minh hơn là nói về hoạt động của một chính khách. Tôi chỉ cố đào sâu hơn một số mặt của nhân vật này vì hiện giờ chưa có tài liệu gì thật sự mới. Thật ra tôi muốn nhấn mạnh đến vai trò mà tôi gọi là người chuyển tải giữa phương Tây và phương Ðông. Ông Hồ Chí Minh đã ứng dụng một học thuyết của phương Tây vào Việt Nam, nhưng vẫn giữ được tính chất rất là Châu Á, rất là Việt Nam. Tôi muốn nói đến sứ mệnh của một nhà lý tưởng, một nhà nhân bản muốn làm cách mạng nhưng buộc phải thỏa hiệp với thực tế cay nghiệt của cuộc cách mạng.

RFI: Cuốn tiểu sử Hồ chí Minh do ông Pierre Brocheux viết cũng tuần tự theo thứ tự thời gian, từ khi ông sinh ra ở làng Kim Liên, rời Việt Nam sang Pháp, chu du khắp thế giới, cho đến thời kỳ hoạt động cách mạng ở nước ngoài, rồi hoạt động bí mật trong nước. Trong những khoảng thời gian nói trên, ông Hồ Chí Minh, một mặt phải làm theo lệnh của Quốc Tế Cộng Sản, vốn chủ trương đấu tranh giai cấp triệt để. Nhưng mặt khác, lại cố gắng tập hợp mọi tầng lớp, kể cả các thành phần tư sản, để giải phóng đất nước khỏi ách thực dân Pháp.

Về điểm này tác giả Pierre Brocheux cho rằng:

" Tôi nghĩ nên nhìn vấn đề một cách khác. Người ta vẫn thường đặt câu hỏi, " Ông Hồ Chí Minh là một người Cộng sản hay một nhà ái quốc." Nhưng theo tôi, ông là một người có bản chất rất Việt Nam, hay đúng hơn là một nhà nhân bản Khổng giáo. Ông muốn giải phóng đất nước, giành độc lập cho Việt Nam nên phải chấp nhận một số thỏa hiệp với thực tế”.

Trong cuộc phỏng vấn của đài BBC, Giáo sư Pierre Brocheux phát biều:

Tôi nghĩ rằng ông Hồ Chí Minh về bản chất thực ra là một người theo Khổng giáo. Ông luôn cố gắng kết hợp những ý tưởng của Khổng giáo, một truyền thống ý thức hệ Ðông Á, với các dòng tư tưởng Châu Âu, từ Marxism đến Lenism. Tôi bỏ cách nhìn từ trước đến nay là tranh luận xem ông Hồ thực sự là một người Cộng sản hay một người theo đường lối dân tộc chủ nghĩa.

Theo tôi, trước sau ông là một người tốt, một người Khổng giáo. Những gì người ta nói về ông ở Việt Nam hiện nay chỉ đúng một phần mà thôi. Theo tôi, ông đã cố gắng đưa vào thực tế tính nhân đạo và tính công bằng xã hội theo kiểu của Khổng giáo.

BBC: Cứ cho là ông Hồ Chí Minh có tính cách như ông nói đi, thì theo ông, ông Hồ nếu sống đến thập niên 70 thì liệu có cách giải quyết khác cho miền Nam sau 1975 hay không?

Pierre Brocheux: Tôi tin là khác, chắc chắn không có cách giải quyết như các ông Lê Duẩn, Lê Đức Thọ. Hồ Chí Minh khác Lê Duẩn, Lê Đức Thọ rất nhiều. Sẽ không có chuyện bắt người miền Nam đi cải tạo hàng loạt hay những điều tương tự. Sau 56 năm nghiên cứu Hồ Chí Minh, tôi có thể nói rằng ông Hồ Chí Minh là một người ưa các giải pháp ôn hòa hơn là cực đoan.

Để thêm tài liệu về Hồ Chí Minh, tôi muốn nói đến tờ “Les Collections de L’Histoire”, số 23, Avril-Juin 2004, một tuyển tập về “Indochine Vietnam: Colonisation, Guerres et Communisme”, trong đó có bài “Con Người Trở Thành Hồ Chí Minh” [L’Homme Qui Devint Ho Chi Minh] của Pierre Brocheux, Giáo sư Diễn Giảng Danh Dự tại Đại Học Denis-Diderot, Paris-VII. Chúng ta sẽ thấy trong đó có vài chi tiết chứng tỏ ngay cả Nga và Tàu cũng không tin tưởng ông Hồ Chí Minh là người Cộng Sản chính thống (orthodox communist).

Trước hết là một tài liệu trích dẫn từ một tài liệu trong văn khố của Nga Sô, mới được sử gia Alain Ruscio phổ biến năm 1990, trang 34-36:

“Năm 1934, Ông Hồ trở lại Moscou. Stalin đã nắm chắc quyền lực, và những cuộc thanh trừng lớn bắt đầu năm 1937. Có vẻ như con người Hồ Chí Minh tương lai là nạn nhân, vì từ ngày trở lại Moscou, ông ta không được tin cậy để giao phó cho một trách nhiệm nào. Không còn nghi ngờ gì nữa người ta đã trách cứ là ông ta ngả về tinh thần quốc gia trong cuộc chiến đấu chống thực dân thay vì tinh thần cách mạng vô sản quốc tế.” (En 1934, il est de retour à Moscou. Staline raffermit son pouvoir, les grandes purges vont débuter en 1937. Il apparait avec certitude que le futur Ho Chi Minh faillit en être victime car, depuis son retour, il ne s’est vu confier aucune responsabilité. Sans doute lui reproche-t’on de préférer le nationalisme qui sous-tend le combat anti-colonial à l’internationalisme de la révolution prolatérienne.)

“Về vấn đề này, ông Hồ đã bày tỏ quan điểm của mình từ năm 1924. Được huấn luyện về cách mạng và chủ thuyết Marx bởi Tây phương, tuy nhiên Quốc đã nhìn theo đặc tính Á Đông: “Cuộc đấu tranh giai cấp ở Đông phương không giống như ở Tây phương. Marx đã xây dựng lý thuyết của mình trên một căn bản triết lý nào đó của lịch sử. Nhưng là lịch sử nào? Đó là lịch sử Âu Châu. Nhưng Âu Châu là gì? Không phải là tất cả nhân loại.” (À ce sujet, il a expliqué son point de vue dès 1924… Éduqué par l’Occident à la révolution et au marxisme, Quoc est pourtant persuadé, de la spécifícité de l’Orient: “ La lutte de classes ne se manifeste pas en Indochine comme en Occident.” ; Marx a bâti sa doctrine sur une certaine philosophie de l’histoire. Mais quelle histoire? Celle de l’Europe. Mais qu’est ce que l’Europe? Ce n’est pas toute l’humanité).

“Hồ Chí Minh có thực sự là mgười Mác-xít không? Hay ông ta chỉ là người Quốc Gia sau lớp sơn đỏ, như một thành viên Cộng Sản Quốc Tế, ông M. N. Roy, người Ấn Độ, đã nói? Vấn đề này đáng được đặt ra. Nếu chắc chắn là ông ta đã đọc bản Tuyên Ngôn của Đảng Cộng Sản, nếu đã nhiều lần ông ta nói là chịu ảnh hưởng trí thức và chính trị của Lê-nin, thì sự gắn bó của ông với chủ nghĩa Mác không bao giờ có tính cách giáo điều.“ (Ho Chi Minh était-il vraiment marxiste? Ou n’était-il qu’un “nationaliste peint en rouge”, comme l’a dit un membre du Komintern, l’Indien M.N. Roy? La question mérite đêtre posée… S’il a certainement lu le Manifeste du Parti Communiste, s’il dit maintes reprises sa dette intellectuelle et politique envers Lénine, son adhésion au Marxisme ne fut, pour autant, jamais dogmatique.)

“Năm 1963, người Cộng Sản Lưu Thiếu Kỳ đã phác họa một hình ảnh chính trị của ông Hồ, nếu đúng, cho thấy một vị thế không thoải mái [của ông Hồ] đưa đến một sự gắn bó đôi đàng với lòng yêu nước chấp nhận thỏa hiệp, và chủ nghĩa xã hội độc quyền: “Hồ luôn luôn là người hữu khuynh. Khi chiến tranh Đông Dương chấm dứt, ông ta không thể quyết định là thiết lập một chế độ tư bản hay một chế độ theo xã hội chủ nghĩa. Chúng tôi đã quyết định cho ông ta.”” (Le communist Chinois Liu Shaoqi esquisse en 1963 un portrait politique de Ho qui, s’il est exact, indique la position inconfortable qui résulte d’une double adhésion au patriotisme consensuel et au socialisme exclusif: “Ho a toujours été un droitiste.. Lorsque la guerre d’Indochine prit fin, il ne put se décider à choisir d’instaurer soit un régime capitaliste soit un régime socialiste. Ce fut nous qui décidâmes pour lui.”)

“Không có gì minh họa rõ hơn sự tương phản giữa Hồ Chí Minh và những người lãnh đạo cộng sản là những trao đổi quan niệm của Mao Trạch Đông và Lưu Thiếu Kỳ với ông Hồ Chí Minh vào năm 1960. Ông Hồ đã tuyên bố rằng ngay cả việc giết kẻ thù cũng không được đạo đức; Mao đã trả lời ông ta: “Tưởng Giới Thạch giết, tôi giết, đó không phải là một vấn đề đạo đức. Và Lưu Thiếu Kỳ thêm vào là viện đến đạo đức khi ta phải đối phó với những tên tư bản chống cách mạng là không thích đáng .” (Rien n’illustre mieux le contraste entre Ho Chi Minh et d’autres dirigeants communistes que les propos que Mao Zedong et Liu Shaoqi tinrent à Ho Chi Minh en 1960. Ho avait déclaré qu’il n’était pas moral de tuer même ses adversaires; Mao lui répliqua: “Chiang Kaishek tue, je tue, ce n’est pas une question de morale.” Et Liu Shaoqi de renchérir qu’il n’était pas pertinent d’invoquer la morale lorsqu’on avait affaire aux contre-révolutionnaires capitalistes.)

Trên đây là những nhận định về Hồ Chí Minh của ba học giả mà không ai có thể nghi ngờ khả năng chuyên nghiệp của họ: William J. Duiker, Sophie-Quinn Judge, và Pierre Brocheux, và DVD của LM Nguyễn Hữu Lễ đã chỉ đưa ra một chi tiết nhỏ, rất nhỏ, trong những tác phẩm đồ sộ của họ. Chúng ta biết rằng, ông Hồ Chí Minh chưa bao giờ phủ nhận mình là người Cộng Sản và đã từng khẳng định là Lenin đã gây cảm hứng cho ông trong công cuộc giành lại độc lập cho đất nước. Qua những tài liệu trên, nay chúng ta đã hiểu ông Hồ là người Cộng sản như thế nào. Đây là kết quả nghiên cứu trong nhiều năm của những người thường ở trong môi trường đại học, đặt sự tôn trọng sự lương thiện trí thức lên hàng đầu, và vì chính uy tín của họ, nên không thể viết theo cảm tính mà không nghiên cứu kỹ vấn đề, hay tự hạ mình rơi vào vòng tranh chấp Quốc-Cộng mà họ không thuộc phe nào và không có lý do gì để ủng hộ hay chống đối một phe nào..

Để thêm thông tin cho những người làm DVD “Sự Thật Về Hồ Chí Minh”, chúng ta hãy đọc thêm một số tài liệu của vài học giả khác.

Có một bài viết về ông Hồ Chí Minh của Wilfred Burchett khá hay: Ho Chi Minh: An Appreciation (pipeline.com). Wilfred Burchett là một ký giả Úc nổi tiếng, đã từng được Ngoại Trưởng Henri Kissinger nhờ làm trung gian liên lạc giữa Mỹ và Hà Nội. Năm 1968, ông đã viết một cuốn có tính cách tiên đoán: “Việt Nam Sẽ Thắng” (Vietnam Will Win) và năm 1977 ông xuất bản cuốn “Châu Chấu Và Voi: Tại Sao [Nam] Việt Nam Sụp Đổ” (Grasshoppers and Elephants: Why Vietnam Fell). Theo tôi, Burchett viết hay, không phải vì tác giả ca tụng ông Hồ, mà tác giả đã viết về những gì đã tạo nên ông Hồ: Không phải thuần túy chỉ là Marx, là Lenin hay Mao Trạch Đông, mà chính là lịch sử 2000 năm chống ngoại xâm của Việt Nam đã tạo nên ông Hồ. Có thể nói, tác giả hiểu Việt Nam hơn rất nhiều người tự cho mình là trí thức, nhất là những “trí thức” Việt Nam. Chúng ta hãy đọc vài đoạn trong bài của Burchett.

“Chính sách của Mỹ là làm cho người Việt Nam cảm thấy mình thuộc một sắc dân thấp kém (racial inferiors), không có quyền về căn cước quốc gia (have no right for national identity). Họ thường bị gọi là “gooks”, “slopes” và “dinks”, và trên những phúc trình chính thức, làng Mỹ Lai trở thành “Thành phố hồng” (Pinkville) [có nghĩa là thành phố CS] và dân làng bị tàn sát chỉ là “những người Á đông” (oriental human beings). [với ý coi thường, miệt thị]

Sự thực là người nông dân Việt Nam nghèo khó nhất, ngay cả thất học, về phương diện văn hóa và đạo đức thường cũng cao hơn người Mỹ (Reality is that the humblest Vietnamese peasant, even illiterate, is usually culturally and morally superior to his American adversary.). Hắn ta biết nhiều hơn về lịch sử đất nước của hắn – không chỉ vì đất nước hắn có vài ngàn năm lịch sử nhiều hơn Mỹ để mà biết đến – mà vì những điều này đã thấm vào trong người hắn từ sữa mẹ (literally absorbs it with his mother’s milk). Ngay từ bé, hắn sống lên trong một môi trường tràn ngập với những câu chuyện về gia tài lịch sử, hoặc được kể ngay khi còn nằm trong lòng mẹ, hoặc qua những màn kịch diễn lại những trang sử oai hùng của 2000 năm lịch sử chống ngoại xâm của những gánh hát di động, hoặc những truyền thuyết về các “thần hoàng làng”, [thường là các anh hùng giúp nước của xóm làng, được nhà Vua sắc phong], hoặc là những câu chuyện về tổ tiên đã bảo vệ non sông như thế nào, hoặc là những chuyện đau khổ của người dân bị đàn áp bởi ngoại nhân nên đòi hỏi một sự đứng lên để chống đối v..v… Sự hiểu biết về 2000 năm tranh đấu chống kẻ xâm lăng có đầy trong dòng máu của người nông dân chân lấm tay bùn nghèo khó nhất. Chỉ một điều này cũng là một nguồn dũng cảm và sức chịu đựng vô tận, một sự tin tưởng vào tương lai và coi thường những kẻ toan tính phá vỡ những đức tính mà những chuyên viên trong cái “hồ tư duy” (think tank) [của Mỹ] không thể hiểu được (The knowledge of two thousand years' struggle against invaders is in the bloodstream of the humblest, mud-stained peasant. This alone is an inexhaustible source of courage and stoicism; of confidence in the future and contempt for those who try to wreck the present-qualities incomprehensible to the "think tank" specialists.).

Ông Hồ Chí Minh là mẫu mực thu nhỏ của tất cả những điều trên. Và đúng là, cũng như một cái gì đó trong mỗi người Việt Nam đều có trong Hồ Chí Minh, một cái gì đó trong Hồ Chí Minh đều có trong hầu hết những người Việt Nam ngày nay, dấu ấn của ông trên dân tộc Việt Nam thật là sâu đậm (Ho Chi Minh epitomizes all this. And just as there was something of every Vietnamese in Ho Chi Minh so there is something of Ho Chi Minh in almost every present-day Vietnamese, so strong is his imprint on the Vietnamese nation.) .

Một vấn đề mà Tổng thống Nixon cũng như các vị tiền nhiệm có thể không lưu ý đến nhưng chắc chắn là dân Việt Nam không thể không biết, đó là Hồ Chí Minh là của toàn thể quốc gia Việt Nam (that Ho Chi Minh belongs to the whole Vietnamese nation.) Không có một lằn ranh giới nào ở vĩ tuyến 17 có thể làm cho người dân miền Nam xa lìa Hồ Chí Minh dù rằng thủ đô được đặt ở miền Bắc. Hồ Chí Minh đã được chấp nhận là lãnh tụ và là nguồn cảm hứng cho mọi người Việt Nam – trừ số người đã lần lượt phục vụ những quan thầy Nhật, Pháp, rồi Mỹ. (No line arbitrarily drawn along the 17th parallel could divorce the people of the South from Ho Chi Minh because his capital happened to be on the northern side of the line. Ho Chi Minh was the accepted leader and source of inspiration for all Vietnamese - except the handful who served Japanese, French and American masters in turn.)

Chúng ta hãy đọc thêm vài tài liệu về ông Hồ:

Trong cuốn “The Vietnam War Almanac, General Editor: John S. Bowman, Barnes & Noble Books, NY, 2005”, trang 493, cũng có viết:

“Ông Hồ ít quan tâm đến những chi tiết tế nhị của chủ thuyết Mao và Lê-nin; thiên tài của ông ta là về hành động chính trị, và lý tưởng của ông ta có thể khá co dãn chừng nào mà nó đưa tới mục đích đã ám ảnh ông ta: nền độc lập và thống nhất của Việt Nam.” (Ho was less concerned with niceties of doctrine than Mao and Lenin; his genius was for political action, and his ideology was capable of considerable stretching as long as it tended toward the purpose that obsessed him: the independence and unification of Vietnam.)

Marilyn B. Young, trong cuốn The Vietnam Wars: 1945-1990, HarperPerennial, New York, 1991, viết, trang 4:

“Trong vài năm tới, những văn bản Hồ Chí Minh viết bị tố cáo vì những “mùi hôi quốc gia” trong đó, và sự ủng hộ của ông Hồ về một liên minh rộng rãi bao gồm cả các địa chủ cỡ nhỏ và trung bình, miễn là họ yêu nước, bị đả kích là kẻ xét lại và là kẻ hợp tác (với kẻ thù). Phải mười năm sau sự tranh luận đắng cay về mối liên hệ giữa cách mạng quốc gia và cách mạng xã hội mới được giải quyết, theo đường lối lúc đầu đưa ra bởi ông Hồ, sự thành lập Việt Minh (Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh Hội.”

(Over the next few years, Ho Chi Minh’s writings were denounced for their “nationalist stench”, and his support for a broad alliance that could include even small and medium landowners, provided they were patriotic, was attacked as reformist and collaborationist. A decade would pass before this bitter debate on the relationship between national and social revolution was resolved, along the lines initially by Ho, in the formation of the Viet Minh.)

Qua những tài liệu trên, chúng ta có thể thấy rằng ông Hồ không phải là tay sai của Nga và Tàu như một số người có đầu mà không có óc cố tình lên án ông ta là tay sai của Đệ Tam Quốc Tế, tệ hơn nữa là “điệp viên của Cộng Sản Quốc tế”, hay ngu xuẩn hơn nữa là “Việt gian bán nước” Họ không hề biết chính trị của ông Hồ giữa Nga và Tàu, đã khôn khéo từ chối không nhận đề nghị của Nga cũng như Tàu gửi quân tình nguyện vào đánh giúp.

Thật vậy, chúng ta hãy đọc một đoạn trong cuốn Ho Chi Minh của Jules Archer, Chương 9: “Giữa Con Gấu Nga Và Con Rồng Tàu” (Between Russian Bear and Chinese Dragon), trang 109:

“Đến Bắc Kinh năm 1959 dự lễ kỷ niệm 10 năm Cách Mạng Trung Quốc, ông Hồ cẩn thận đứng giữa Mao Trạch Đông và đại diện của Nga Sô, Miklai Suslov. Trong những cuộc đàm phán riêng, ông Hồ đã thành công lấy được sự hứa hẹn của cả Bắc Kinh lẫn Moscou để tăng gia giúp thêm vũ khí và viện trợ dân sự, nhưng khôn khéo từ chối những đề nghị gửi quân tình nguyện hay cố vấn quân sự đến Việt Nam. Ông Hồ biết rõ là nếu để cho con gấu Nga hay con rồng Trung Hoa được đặt chân vào cửa ngõ Hà Nội thì dần dần cửa ngõ này sẽ bị cưỡng bách mở rộng ra cho đến khi Bắc Việt mất đi nền độc lập và trở thành một quốc gia bị chiếm.” (Visiting Peking in 1959 for the 10th anniversary of the Chinese Revolution, Ho was careful to stand between Mao Tse-Tung and Chief Soviet Delegate Mikhail Suslov. In private negotiations, he managed to win pledges of additional arms and aid from both Peking and Moscou, but adroitly declined their offers to send “volunteer” troops or military advisers. Ho knew that if either the Russian bear or the Chinese dragon were allowed to trust a foot inside Hanoi’s door, that door would gradually be forced open until North Vietnam lost its independence and became a captive nation.)

Tại sao ngày nay người dân Việt Nam vẫn còn kính ngưỡng ông Hồ Chí Minh, tuy rằng trên diễn đàn truyền thông hải ngoại có cả một chiến dịch để xóa bỏ “thần tượng Hồ Chí Minh”? Một trong những lý do rất dễ hiểu là phần lớn những điều viết về ông Hồ của giới chống Cộng là sai lầm, là vô căn cứ, bắt nguồn từ lòng thù hận một chiều của những người gọi là Quốc Gia, chứ không đặt trên những sự thật và sự kiện lịch sử. Thật vậy, những người chống Cộng cực đoan như LM Nguyễn Hữu Lễ et al… chỉ nhìn thấy những điều lặt vặt, nhiều khi sai lầm, như chúng ta thấy trong DVD “Sự Thật Về Hồ Chí Minh”.

Để chấm dứt những tài liệu về “Sự Thật Về Hồ Chí Minh” tôi xin trích dẫn đoạn kết trong cuốn Ho Chi Minh của Jules Archer, trang 189-190:

“Cộng Sản hay không, ông Hồ Chí Minh cũng sẽ đi vào lịch sử như là một người Việt Nam yêu nước vĩ đại, là một trong những khuôn mặt phi thường của thế giới trong thế kỷ này. Không vị kỷ, can đảm, hiến thân cho nền độc lập của Việt Nam bằng mọi giá, ông ta đã vật nước Pháp phải khụyu đầu gối và chiến đấu chống Hoa Kỳ, một thế lực mạnh nhất thế giới, đưa đến một thế bí quân sự.

Sự cương quyết về một mục đích đã làm thay đổi giòng lịch sử, làm phân rẽ dư luận quần chúng ở Hoa Kỳ, bắt buộc một Tổng Thống Mỹ phải rút lui không tái cử cho nhiệm kỳ hai, khiến cho hàng triệu giới trẻ trên khắp thế giới kính ngưỡng ông ta ủng hộ cách mạng và xuống đường biểu tình ủng hộ ông ta, hô “Hồ, Hồ, Hồ Chí Minh” [Nếu ai đã ở Madison, Wisconsin, nơi tôi đang học, vào đầu thập niên 1970 thì sẽ hàng ngày chứng kiến cảnh này, ngoài những “sit-in”, của sinh viên đại học Wisconsin-Madison. TCN]

Sự pha trộn duy nhất chủ nghĩa Mác-xít với chủ nghĩa gia trưởng, và chủ nghĩa quốc gia cao độ của ông Hồ đã thành công vĩ đại trong việc gây cảm hứng cho dân ông chịu đựng những sự hi sinh to lớn. Họ cũng còn kính yêu “Bác Hồ” vì nhân cách khiêm nhường và những cách cư xử từ ái của ông. Ông Hồ là sự thất vọng của những kẻ thù – Pháp, chế độ Sài gòn, và Mỹ - vì họ không thể nào làm cho người ta thù hận được ông. Ông ta được sự kính yêu của người trong Nam cũng như của những người ở ngoài Bắc.

Một trong những thành quả vĩ đại của ông là, cũng như Tito, ông đã đạt thành một “Cộng sản quốc gia”, giữ cho nước của ông ta ở ngoài những móng vuốt của cả Trung Hoa Đỏ và Liên Bang Sô Viết, trong khi ông ta khôn khéo đi hàng đôi để có được sự giúp đỡ mà nước ông cần đến. Khi ông ta mất, Việt Nam không phải là một nước chư hầu, mà là một nước độc lập đầy hãnh diện, cương quyết trên sự thiết lập cá tính quốc gia cho mọi người Việt Nam…

Khi những trang sách về cuộc đời của ông được cân nhắc, và hòa bình sau cùng tái lập trên đất nước thê thảm của Việt Nam, ông Hồ Chí Minh sẽ vĩnh viễn được các nông dân đã từng yêu kính và đứng sau lưng ông coi như là một người Việt Nam vĩ đại nhất trong của lịch sử của họ - người “Bác” kính ngưỡng của nước ông.”

(Communist or not, Ho Chi Minh will probably go down in history as a great Vietnamese patriot who was one of the extraordinary world figures of this century. Selfless, courageous, dedicated to Vietnamese independence at all costs, he wrestled France to her knees and fought the United States, the world’s mightiest power, to a military stalemate.

His single mind resolution changed the course of history, polarized public opinion in the United States, forced an American President to withdraw from seeking a second term, and radicalized millions of admiring youth around the world who demonstrated in his support chanting, “Ho, Ho, Ho Chi Minh”.

Ho’s unique mixture of Marxism, paternalism, and intense nationalism was enormously successful in inspiring tremendous sacrifice among his people. They also loved “Bac Ho” (Uncle Ho) for his winning personal modesty and gentle ways. Ho was the despair of all his enemies – the French, the Saigon regime, the Americans – because they were unable to muster hatred of him. He was held in as much affection in South Vietnam as among the people he led in the North.

Not the least of his great achievements was that he had, like Tito, achieve a “national Communism” which kept his country out of the grip of both Red China and the Soviet Union, while he skillfully played one off against the other to get the help his country needed. When he died, North Vietnam was no satellite but a proud, independent country, determined on nationhood for all Vietnamese…

When the books of his life are balanced, and peace is finally restored to the tragic land of Vietnam, Ho Chi Minh will always be known to the peasants who loved and followed him as the greatest Vietnamese in their history – the revere uncle of his country.)

Tổng kết hết cuộcđời của ông Hồ, qua những tài liệu trên, ta chỉ thấyông chỉ có mộtđiểm nổi bật, và dân tộc cũng như lịch sử Việt Nam cũng chỉ ghi và nhớ một điều: Không có ông Hồ Chí Minh thì Việt Nam không thể thoát ra khỏi nền đô hộ của thực dân Pháp, và các đồng chí của ông đã không thể thực hiện được ý nguyện của ông là thắng giặc Mỹ , mang lại độc lập, thống nhất và hòa bình cho Việt Nam. Biết bao nhiêu người yêu nước khác cùng tâm nguyện, cũng đã cống hiến đời mình để chống xâm lăng,nhưng đều thất bại: Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu, Hoàng Hoa Thám, Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Thái Học ...Chỉ có ông Hồ Chí Minh là thành công.

Vậy thì, như một hệ luận, ai là những người không muốn ghi công và nhớ ơn đó của ông Hồ Chí Minh và ngụy biện tìm cách phỉ báng ông? Câu trả lời là những kẻ từng làm tay sai cho giặc xâm lược Pháp (và Mỹ), những kẻ từng được đặc quyền đặc lợi dưới chế độ bảo hộ Pháp (và Mỹ), những kẻ giờ nầy còn đòi lại đất đai do Thực dân ban cho hoặc cướp của Phật Giáo, của nhân dân. Những kẻ đó chính là lực lượng Công Giáo Việt Nam, và LM Nguyễn Hữu Lễ với cuốn DVD là một tiêu biều!

Đoạn kết ngắn, rất ngắn, của TCN:

Khi qua đời, ông Hồ Chí Minh chỉ để lại một bản di chúc, ngoài ra không có một tài sản riêng nào. Trong suốt cuộc đời, ông Hồ có một nếp sống giản dị. Trong DVD, hình ông chụp với Mao Trạch Đông, dưới chân cũng chỉ có đôi dép. Với cương vị là Chủ Tịch Nước, ông không cần phải như vậy.

Trong di chúc của ông Hồ Chí Minh có hai câu:

Còn non, còn nước, còn người,

Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay!

[Jack Woddis dịch:

Our rivers, our mountains, our people will always be;

The American aggressors defeated, we will build a country ten times more beautiful]

Hơn 10 hay hơn 100? Tùy theo nhận định của những người đã về thăm quê hương như tôi. Đảng CS VN đã hoàn thành một ý nguyện trong di chúc của ông Hồ Chí Minh: “Thắng Giặc Mỹ”. Nhưng còn những ý nguyện khác như “cần, kiệm, liêm, chính”; “hỏa thiêu để khỏi tốn tiền của nhân dân”; “sửa sai và tự kiểm để dân chủ hóa tổ chức và nâng cao đạo đức của các cán bộ đảng sau cuộc chiến.” thì sao? Xin hãy học tập theo gương “Bác Hồ” và xin đừng phụ lòng của “Bác”.



Trần Chung Ngọc

19 tháng 8, 2009



* Ý kiến đọc giả:

Xin cảm ơn GS Trần Chung Ngọc và Sachhiem.net (Minh Nho)

Trang Trần Chung Ngọc
lmhuule wrote on Nov 20, '09
VÀI NÉT VỀ “CỤ DIỆM”

Trần Chung Ngọc
đăng ngày 17 tháng 7, 2007



"...Với tư cách là người con của một gia đình mà thân phụ tôi đã phục vụ nước Pháp ngay từ khi Pháp mới đến An-nam, và đã nhiều lần đưa mạng sống cho nước Pháp trong các cuộc hành quân mà cha tôi (Ngô Đình Khả) cầm đầu, dưới quyền Nguyễn Thân, chống lại các kẻ nổi loạn do Phan Đình Phùng chỉ huy, tại Nghệ-an và Hà-tịnh.

Có thể tôi lầm, tuy nhiên, thưa Đô Đốc, tôi xin thú thực là không tin – cho đến khi được chứng minh ngược lại – rằng các em tôi đã phản lại truyền thống của gia đình chúng tôi đến như thế, một gia đình đã tự mình gắn liền với nước Pháp từ lúc ban đầu, trong khi ông cha của những quan lại bây giờ hầu hết đều chống lại Pháp...." ( GIÁM MỤC NGÔ ĐÌNH THỤC)





Phần I



ã viết về “Cụ Hồ” mà lại không viết về “Cụ Diệm” thì quả là một điều thiếu sót, vì dù sao ông Diệm cũng đã là Tổng Thống của miền Nam trong 9 năm . Nhưng bài này tuyệt đối không phải để đối chiếu so sánh “Cụ Diệm” với “Cụ Hồ” vì không ai có đôi chút hiểu biết lại đi làm công việc vô trí này. Tại sao? Vì một đằng suốt đời sống gian khổ, tổ chức, tập họp những người yêu nước chống Pháp, mong giành lại độc lập và thống nhất cho đất nước [Cụ Hồ], một đằng làm quan cho Pháp, bắt người yêu nước chống Pháp tra khảo, rồi nằm yên vị trong các Trường Dòng Công Giáo ở Mỹ, Bỉ trong khi nước nhà sôi bỏng vì chiến tranh, kháng chiến chống Pháp trở lại Đông Dương, rồi phút cuối trở về làm “chí sĩ cứu tinh dân tộc” [Cụ Diệm]. Đã có nhiều sách viết về biến cố ông Ngô Đình Diệm về chấp chánh ở miền Nam. Và không ai có thể phủ nhận là chính cựu Hoàng Bảo Đại đã bổ nhiệm ông Diệm về làm Thủ Tướng. Nhưng những chi tiết từ đâu mà cựu Hoàng Bảo Đại bổ nhiệm ông Diệm thay vì không phải ai khác thì rất ít được viết đến. Có chăng chỉ là sơ sài như ông Diệm được Hồng Y Spellman ủng hộ hay được chính giới Mỹ ủng hộ, tuy rằng dân Việt không có ủng hộ, vì khi đó chẳng có mấy người biết đến ông Diệm .


Chúng ta biết rằng Ông Ngô Đình Diệm không phải là một khuôn mặt chính trị có tầm vóc ở Việt Nam, được nhiều người biết đến trước khi được đưa về Việt Nam làm Thủ Tướng vào tháng 6, 1954. Thành tích của ông trong thời Pháp thuộc không lấy gì làm sáng sủa, chưa kể ông thuộc dòng họ ba đời làm Việt Gian. Thành tích “yêu nước” nổi bật nhất của ông là trong thời Pháp thuộc, khi làm Tri Phủ Hòa Đa, ông đã dùng đèn cầy đốt hậu môn của những người yêu nước chống Pháp để tra khảo. Chúng ta cũng biết, từ năm 1950, ông đã rời quê hương đất tổ của ông để sống trong các Trường Dòng Công Giáo ở Mỹ và ở Bỉ. Vì những thành tích này mà khi ông về cầm quyền, những người Công giáo đã tôn ông lên làm “chí sĩ”, và người dân miền đã Nam bị cưỡng bức phải ca bài “Toàn dân Việt Nam biết ơn Ngô Tổng Thống; Ngô Tổng Thống, Ngô Tổng Thống muôn năm”. Cuối cùng, “muôn năm” chỉ có vỏn vẹn “chín năm”, và ông đã yên nghỉ cùng Chúa và ông bạn vàng Torquemada (một Đại Phán Quan Tây Ban Nha giống như ông Diệm đã từng tự nhận), tới nay được 43 năm rồi.

Một câu hỏi được đặt ra: với một thành tích “yêu nước” và chính trị không có gì, với một khả năng rất giới hạn, tài và đức đều không có, vậy tại sao ông Diệm lại được chọn để làm Thủ Tướng ở miền Nam? Có lẽ những chi tiết trong cuốn “The American Pope: The Life and Times of Francis Cardinal Spellman”, A Dell Book, NY, 1985, của John Cooney, tạm gọi là đầy đủ nhất. Để viết cuốn sách này, tác giả Cooney đã xử dụng những nguồn tài liệu từ chính Nhật Ký của Spellman, những hồ sơ mật của FBI, và qua những cuộc phỏng vấn, nên tác phẩm của Cooney là một nguồn tài liệu rất có giá trị [By using Spellman’s personal diary, FBI classified files, and interviews, Cooney’s volume is an engrossing, valuable document]. Vậy sau đây, tôi xin trích dẫn vài đoạn trong phần nói về ông Diệm trong cuốn sách trên, từ trang 307 đến trang 314.




“Tuy rằng không có mấy người biết điều này, Hồng Y Spellman đã đóng một vai trò rất quan trọng trong việc tạo nên sự nghiệp chính trị của một người đã ở trong một Trường Dòng ở New York trước đây, vừa trở thành Thủ Tướng của miền Nam Việt Nam: Ngô Đình Diệm. Ở Diệm, Spellman nhìn thấy những đặc điểm mà ông ta muốn có trong mọi người lãnh đạo: Công Giáo nồng nhiệt và chống Cộng điên cuồng.

Spellman đã gặp Diệm ở New York vào năm 1950, khi người Việt Nam này ở trong Trường Dòng Marykoll ở Ossining, New York. Một tín đồ Công giáo trung thành, sinh ra từ một gia đình gia giáo, Diệm ở trong Trường Dòng do sự cầu xin của người Anh, Ngô Đình Thục, một Giám mục Công giáo. Là một người độc thân rất sùng tín, Diệm đã tự tách mình ra khỏi thế giới, đặc biệt là ra khỏi quốc gia tan tác bởi chiến tranh của ông ta. Và ông ta chỉ được biết đến bởi một nhóm nhỏ hoạt động chính trị ở Mỹ. Ở Việt Nam tên ông ta không gây nên một hứng thú nào. Trên chính trường Mỹ, ông ta không được ai biết đến, một tình trạng mà Spellman giúp ông sửa đổi. Lai lịch của Diệm không tránh được sự chú ý của Spellman.

Người đưa Diệm đến Spellman là Linh mục Fred McGuire. Một cựu thừa sai ở Á Châu, kiến thức về Viễn Đông của McGuire được biết rõ ở Bộ Ngoại Giao. McGuire nhớ lại, một ngày nọ ông được Dean Rusk, khi đó làm trưởng ban Á Châu vụ, nhờ dàn xếp để Giám mục Thục, sắp đến Mỹ, tới gặp các viên chức của Bộ Ngoại Giao. Rusk cũng tỏ ý muốn gặp Diệm.

McGuire tiếp xúc với người bạn lâu đời, Giám Mục Griffiths, vẩn còn là chuyên viên ngoại vụ của Spellman. Hắn ta yêu cầu sẽ để cho Thục được tiếp kiến đúng nghi thức bởi Hồng Y. Trong dịp này Diệm đã từ Trường Dòng đến nhà riêng của Spellman. Cuộc gặp gỡ giữa Spellman và Diệm có thể là một cuộc gặp gỡ lịch sử. Joseph Buttinger, một người hoạt động cho những người tị nạn Việt Nam, tin rằng Hồng Y Spellman là người Mỹ đầu tiên nghĩ đến việc đưa Diệm về lãnh đạo Nam Việt Nam.

Tháng 10 1950, hai anh em Diệm đã gặp các viên chức Bộ Ngoại Giao ở khách sạn Mayflower, có cả Rusk. Diệm và Thục được tháp tùng bởi McGuire và ba giới chức chính trị của giáo hội khi đó đang hoạt động để ngăn chận Cộng Sản: Linh mục Emmanuel Jacque, Giám mục Howard Carroll, và Edmund Walsh ở đại học Georgetown. Mục đích của cuộc gặp gỡ này là hỏi hai anh em Diệm Thục về đất nước của họ và xác định những niềm tin chính trị của họ. Điều rõ ràng sau đó là cả Thục và Diệm đều tin rằng Diệm sẽ cai trị đất nước của họ. Sự kiện là Việt Nam chỉ có 10% Công Giáo không đáng quan tâm đối với hai anh em Diệm.

Khi bày tỏ ý kiến trong bữa ăn tối, hai lập trường Diệm tin tưởng nhất đã rõ ràng. Hắn ta tin vào quyền năng của Giáo hội Công Giáo và hắn ta thù địch dữ dội và quyết liệt chống Cộng. Điều này chắc đã phải gây ấn tượng trên các viên chức Bộ Ngoại Giao. Quan tâm đến Việt Nam từ khi Truman bắt đầu giúp tài chánh cho Pháp ở đó (Việt Nam), những viên chức Bộ Ngoại Giao đã luôn luôn để ý đến những người lãnh đạo chống Cộng cực đoan vì ảnh hưởng của Pháp đã phai nhạt. Sau Điện Biên Phủ, Eisenhower muốn ủng hộ một chính phủ mở rộng hơn là chính phủ của ông Vua, người không được quần chúng ủng hộ mấy vì đã từ lâu bị coi như là một bù nhìn của Pháp và Mỹ. Do đó Mỹ muốn có một người Quốc Gia ở địa vị cao ở Nam Việt Nam để làm giảm sự hấp dẫn của Hồ Chí Minh. Kết quả là Bảo Đại đã cho Diệm một chức vụ mà Diệm mà Diệm vẫn muốn – Thủ Tướng. [[Về chuyện này Bernard Fall viết trong The Two Viet-Nams, trang 244: “Ý thức được rằng mình đang ném ngai vàng đi, Bảo Đại bắt Diệm phải thề (Theo Stanley Karnow, trang 218, Bảo Đại bắt Diệm thề trước cây Thánh Giá [before the crucifix]) trung thành với ông, và nhiều nhân chứng có thẩm quyền quả quyết là Diệm cũng còn quỳ xuống trước Hoàng Hậu Nam Phương là sẽ làm hết sức trong phạm vi quyền lực của mình để “giữ ngai vàng cho Hoàng Tử Bảo Long, con của Bảo Đại” (Fully realizing that he was throwing his throne away, Bao Dai allegedly made Diem swear a solemn oath of allegiance to him, and several authorative witnesses affirm that Diem also swore on his knees to Empress Nam-Phuong that he would do everything in his power “to preserve the throne of Viet-Nam for Crown Prince Bao-LOng”, son of Bao Dai.) Nhưng chúng ta đã biết, chỉ hơn 1 năm sau, Diệm đã dùng tiền của CIA để tổ chức cuộc Trưng Cầu Dân Ý gian lận để phế bỏ Bảo Đại và lên làm Tổng Thống. Về vụ này Bernard Fall cũng viết, trang 257: “Trong hầu hết các nơi bỏ phiếu, có nhiều ngàn phiếu nhiều hơn là số cử tri đã bỏ cho Diệm . Thí dụ, Ở vùng Saigon-Chợ Lớn, đếm được 605,205 phiếu trên số 450,000 cử tri ghi danh”. (In nearly all electoral areas, there were thousands more “Yes” votes than voters. In the Saigon-Cholon area, for example, 605,025 votes were cast by 450,000 registered voters)]]

Diệm trở về Saigon ngày 26 tháng 6, 1954, sau Edward Lansdale vài tuần. Lansdale là trùm CIA về quân sự ở Saigon, đặc trách cuộc chiến không theo quy ước [có nghĩa là đánh phá ngầm]

Lập trường của Spellman về Việt Nam phù hợp với những mong ước của giáo hoàng. Malachi Martin, một cựu tu sĩ dòng Tên phục vụ tại Vatican trong những năm Mỹ leo thang chiến tranh ở Việt Nam, nói rằng giáo hoàng muốn Mỹ ủng hộ Diệm vì giáo hoàng đã bị người anh của Diệm, Tổng giám mục Thục, ảnh hưởng. “Giáo hoàng quan tâm đến sự càng ngày càng thắng lợi của Cộng sản do đó làm suy yếu giáo hội,” Malachi xác nhận rằng: “Giáo hoàng ra lệnh cho Spellman khuyến khích Mỹ tham chiến ở Việt Nam.”

Do đó Spellman xếp đặt một chiến dịch hòa điệu kỹ càng để dựng lên chế độ Diệm. Qua báo chí và vận động trong hậu trường ở Washington, vấn đề đối đầu chống Cộng ở Đông Dương được phổ biến rộng rãi ở Mỹ.

Spellman và Kennedy cũng còn giúp lập lên một nhóm vận động hậu trường Washington. Chủ trương của sự đồng minh này là chống Cộng và phát huy ý hệ Công Giáo.

..Do đó, rất nhiều người Mỹ tin rằng Việt Nam là một quốc gia phần lớn là Công Giáo. Một phần của cái ấn tượng sai lầm này là kết quả của việc Diệm lên cầm quyền. Với sự giúp đỡ của CIA tổ chức cuộc bầu cử gian lận năm 1955, Diệm hủy bỏ chế độ quân chủ và Bảo Đại bị cưỡng bức phải sống trong cảnh lưu đầy. Cái màu sắc Công Giáo đậm đà trong cuộc vận động hậu trường Việt Nam cũng góp phần tạo nên quan niệm sai lầm trên. Còn một yếu tố khác là sự đặt mình vào trong đường lối trên của Spellman.

Rồi còn có vai trò hấp dẫn của một bác sĩ Công giáo trẻ hoạt động ở Việt Nam tên là Tom Dooley. Một Trung Úy hải quân hoạt động ở Hải Phòng, Dooley làm việc với các người tị nạn.

Là con cưng của Spellman, có một lúc Dooley tổ chức được 35,000 tín đố Công Giáo Việt Nam ở miền Bắc đòi di cư. Có lẽ những nỗ lực của Dooley thành công ở Mỹ hơn là ở Việt Nam. Hắn viết ra những bài trong nhật báo và tuần báo và 3 cuốn sách bán chạy nhất để tuyên truyền cho Công Giáo và chống Cộng theo những niềm tin của hắn. Hắn dựng lên những chuyện người Công Giáo bị khổ nạn trong tay của những người Cộng Sản đã đánh đập vào bộ sinh dục của các linh mục trần truồng, chọc thủng màng tai của những đứa trẻ bằng đũa để cho chúng không nghe được về Thiên Chúa, và mổ bụng phụ nữ có thai. Tốt nghiệp đại học Notre Dame ở Indiana [thực ra Dooley không tốt nghiệp bác sĩ từ đại học Notre Dame mà từ đại học St. Louis. Trường Notre Dame có tiêu chuẩn cao nên Dooley không theo được và phải bỏ Notre Dame theo học ở St. Louis. Nhưng ngay ở đây, Dooley cũng học rất kém, phải học lại năm cuối, và khi làm nội trú cũng phải làm thêm 6 tháng. Nhưng vì những công việc chống Cộng bịp bợm nên Dooley đã trở thành nổi tiếng như là một bác sĩ tận tụy giúp người di cư và chống Cộng cực đoan. Vì vậy năm 1960, trường Notre Dame trao tặng cho Dooley chức bác sĩ hàm] , Dooley đi khắp nước Mỹ để quảng cáo những cuốn sách của mình và hô hào chống Cộng, rồi chết năm 1961, khi mới có 34 tuổi. Người cuối cùng đến bên giường bệnh của Dooley là Hồng Y Spellman, người đã tôn ông bác sĩ trẻ như là nguồn cảm hứng cho mọi người – một thánh tử đạo khác. Tiếng tăm của Dooley không suy giảm cho đến khi Ủy Ban phong Thánh của Công Giáo La Mã điều tra năm 1979 và khám phá ra rằng Dooley có liên hệ với CIA. [Muốn biết sự thực về con người của Tom Dooley, xin đọc bài “Doctor Tom Dooley” của Peter Brush trong mục các bài tiếng Anh]

Dooley đã giúp CIA tạo loạn cho Bắc Việt qua những chương trình tị nạn của hắn. Những người Công Giáo đổ vào miền Nam đã mang đến cho Diệm một hậu thuẫn chính trị lờn và được hứa hẹn của Mỹ giúp đỡ để tái định cư. Quần chúng Mỹ phần lớn tin rằng hầu hết những người Việt Nam đều khiếp sợ sự độc ác và khát máu của Việt Minh và tìm đến ông Diệm sợ Chúa để được giải thoát. Nhiều người tị nạn chỉ sợ bị trả thù vì mình đã ủng hộ Pháp.

...Sự tuyên truyền của Spellman về bản chất Công Giáo của chính quyền Diệm đã làm rõ rệt thêm hình ảnh không đẹp về vị thế của giáo hội ở Việt Nam. Cái bản chất tôn giáo của chính quyền Diệm và những vấn đề chính quyền đó tạo ra đã được ghi nhận bởi Graham Greene, một tín đồ Công Giáo, trong một bài viết từ Saigon, in trong tờ London Sunday Times ngày 24 tháng 4, 1955:

“Chính cái giáo thuyết Công Giáo đã làm cho chính quyền Diệm sụp đổ, vì sự sùng tín của ông ta đã bị những cố vấn Mỹ khai thác cho đến khi giáo hội ở trong nguy cơ làm mất lòng dân như Mỹ. Một cuộc viếng thăm không thích hợp của Hồng y Spellman (Hồng Y Spellman đến Việt Nam để nâng uy tín của Diệm đồng thời bi thảm hóa của cuộc di cư lớn lao của người Công Giáo “dramatizing once more the great exodus of refugees from the North, the greater part of whom are Catholics.”) Một linh mục Việt Nam nói: Ông ta (Spellman) nói nhiều về con bò vàng [mà một số người Do Thái thờ phụng như được viết trong Cựu ước. TCN] hơn là về Mẹ Thiên Chúa] đã được tiếp nối bởi những cuộc viếng thăm của Hồng y Gillroy và Tổng Giám mục ở Canberra. Những số tiền lớn lao đã được dùng để tổ chức những cuộc biểu tình đón tiếp những vị khách này, đưa ra một ấn tượng là giáo hội Công Giáo là của Tây phương và là đồng minh của Mỹ trong cuộc chiến tranh lạnh. Trong những trường hợp hiếm hoi mà ông Diệm thăm viếng những vùng của Việt Minh trước đây, bao giờ cũng có một linh mục đứng bên, và thường là một linh mục Mỹ.

...Nam Việt Nam, thay vì đối đầu với chế độ toàn trị của miền Bắc bằng những bằng chứng về tự do, lại rơi vào một chế độ độc tài bất hiệu lực: dẹp bỏ báo chí, kiểm duyệt chặt chẽ, lưu đầy bằng lệnh của chính quyền thay vì phải được xét xử ở tòa án. Thật là bất hạnh khi một chính quyền như vậy lại đồng nhất hóa với một đức tin. Ông Diệm rất có thể đã để lại trên đất nước đầy tinh thần khoan nhượng này một di sản chống-Công Giáo.”

Trong cuộc viếng thăm, Spellman đã trao một ngân phiếu 100,000 đô-la cho Tổ Chức Cứu Trợ Công Giáo, một tổ chức hoạt động tích cực trong chương trình tái định cư những người di cư và sau đó cai quản chương trình viện trợ của Mỹ, chứng tỏ Tổ Chức này sát cánh với nỗ lực chiến tranh của Mỹ và đưa tới sự nghi ngờ là Tổ Chức có liên hệ với CIA. Dùng Giáo hội để làm chức vụ như vậy đã được thi hành ở Châu Mỹ La-Tinh, ngoài nhiều nơi khác, nhưng ở Việt Nam có vẻ đúng như những lời khuyến cáo của Graham Greene là Giáo hội và Mỹ đã cùng nhau thi hành một đường lối thất nhân tâm đối với những người Việt Nam.

Khả năng tham nhũng ở Việt Nam rất cao và cũng làm hại tới uy tín của Tổ Chức Cứu Trợ. Drew Parson ước tính chỉ trong năm 1955 chính quyền Eisenhower đã bơm vào Việt Nam trên 20 triệu đô-la viện trợ giúp người tị nạn Công giáo. Không thể tránh được, có quá nhiều gắn ghép và tham nhũng trong việc phân phối thực phẩm, thuốc men, và các đồ dùng khác tới các làng mạc. Tờ National Catholic Reporter đã phúc trình những sự lạm dụng của Tổ Chức Cứu Trợ Công Giáo trong nhiều bài mà một bài có đầu đề là: “Việt Nam 1965-1975. Vai Trò của Tổ Chức Cứu Trợ Công Giáo: Công Trình Của Chúa – Hay Của CIA?” Những sự lạm dụng bị phanh phui gồm có: dùng viện trợ để truyền đạo, chỉ giúp những người Công Giáo tuy viện trợ là cho tất cả mọi người, đồng nhất hóa với quân lực, và đem cho binh lính Mỹ và Việt thay vì cho dân sự như mục đích của viện trợ. [Những người ở Việt Nam thời đó đều biết rõ các Linh mục Công Giáo Việt Nam và tổ chức Công Giáo được giữ độc quyền để phân phát viện trợ. Sự phanh phui trên là từ một tờ tuần báo của chính Công Giáo] 1

Qua tài liệu trên, và phối hợp với nhiều tài liệu khác, thí dụ như của Joseph L. Daleiden, một học giả Công Giáo trong cuốn The Final Superstition, chúng ta thấy rõ vai trò then chốt của Vatican đã dự phần đưa tới việc Mỹ tham chiến ở Việt Nam. Chúng ta cũng còn biết, Hồng Y Spellman đã đến Việt Nam nhiều lần, đi tới các tiền đồn để khuyến khích lính Mỹ chiến đấu cho Chúa: “Trong một bài học thuộc Giáo hội thời Trung Cổ, Spellman bảo với binh sĩ Mỹ là họ là những “thánh chiến quân” tham gia vào cuộc chiến của Chúa Ki Tô chống Việt Cộng và dân chúng Bắc Việt” (John Cooney, p.384: In a lesson from the medieval Church, Spellman told the troops they were “holy crusaders” engaged in “Christ’s war against the Viet-cong and the people of North Vietnam). Nhưng tại sao Chúa lại chống Cộng ở một nước nhỏ bé như Việt Nam, sao Chúa không chống Cộng ở Nga, ở Tàu, hay ở Ba Lan, Tiệp Khắc ngay bên Âu Châu? Vatican, thêm một lần nữa, đã mang tội với dân tộc Việt Nam và các tín đồ Công Giáo Việt Nam phải gánh cái hậu quả này. Chúng ta cũng thấy rõ, Ngô Đình Diệm chẳng qua chỉ là một con cờ của liên minh Mỹ-Vatican. Và Ngô Đình Diệm không thể ngờ được rằng về sau, vì quyền lợi của Vatican và của Mỹ, cả Vatican và Mỹ đều bỏ rơi mình, đưa đến một kết quả quá bi thảm cho chính bản thân. Thật là tội nghiệp. Dưới hình thức nào thì thực dân cũng đều như nhau. Ngày nay, những tàn dư của Cần Lao còn cố gắng “phục hồi tinh thần Ngô Đình Diệm” mà không biết rằng họ đang phục hồi tinh thần Trần Ích Tắc.

Để cho công bình, chúng ta cũng còn phải xét thêm việc từ khi về làm Thủ Tướng và rồi tự lên làm Tổng Thống, “Cụ Diệm” đã làm gì cho đất nước? Đã có nhiều sách viết về nền Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa: Đỗ Mậu, Lê Trọng Văn, Hồ Sĩ Khuê, Nguyệt Đam & Thần Phong, Nguyễn Mạnh Quang, Vũ Ngự Chiêu v..v... Nhưng xin đọc Phần II để biết người Tây Phương đánh giá ông Ngô Đình Diệm như thế nào.

1. Though few people knew this, the Cardinal played a prominent role in creating the political career of a former seminary resident in New York who had just become Premier of South Vietnam, Ngo Dinh Diem. In Diem, Spellman had seen the qualities he desired in any leader: ardent Catholicism and rabid anti-Communist.

Spellman had met Diem in New York in 1950, when the Vietnamese had been at the Marykoll Seminary in Ossining, New York. A staunch Catholic from a patrician family, Diem was at seminary at the intercession of his brother, Ngo Dinh Thuc, a Roman Catholic bishop. A lay celibate and deeply religious, Diem had cut himself off from the world, especially his war-shredded nation, and had been known only to a small, politically active circle in the United States. In his homeland his name had hardly evoked enthusiasm. On an official level in the United, Diem was an unknown quantity, a situation Spellman helped rectify. Diem’s background meant that he inevitably came to the attention of Spellman.

The man responsible for bringing them together was Father Fred McGuire. A former missionary to Asia, McGuire’s intimate knowledge of the Far East was well known at the State Department. One day the priest was asked by Dean Rusk, then head of the Asian section, to see that Bishop Thuc, who was coming to the United States, met with State Department officials, McGuire recalled. Rusk also expressed an interest in meeting Diem.

McGuire contacted his old friend Bishop Griffiths, who was still Spellman’s foreign affairs expert. He asked that Thuc be properly received by the Cardinal, which he was. For the occasion Diem came to the Cardinal’s residence from the seminary. The meeting between Spellman and Diem may well have been a historic one. Joseph Buttinger, a prominent worker with refugees in Vietnam, believed the Cardinal was the first American to consider that Diem might go home as the leader of South Vietnam.

In October 1950 the Vietnamese brothers met in Washington at the Mayflower Hotel with Stae Department officials, including Rusk. Diem and Thuc were accompanied by McGuire as well as by three political churchmen who were working to stop Communism: Father Emmanuel Jacque, Bishop Howard Carroll, and Georgetown’s Edmund Walsh. The purpose of the meeting was to ask the brothers about their country and determine their political beliefs. It soon became clear that both Diem and Thuc believed that Diem was destined to rule his nation. The fact that Vietnam’s population was only ten percent Catholic mattered little as far as the brothers were concerned.

As Diem spoke during the dinner, his two most strongly held positions were readily apparent. He believed in the power of the Catholic Church and he was virulently anti-Communist. The State Department officials must have been impressed. Concerned about Vietnam since Truman first made a financial commitment to helping the French there, they were always on the lookout for strong anti-Communist leaders as the French faded. After Dien Bien Phu, Eisenhower wanted to support a broader-based government than that of Emperor, who enjoyed little popular support and had long been considered a puppet of the French and the Americans. Thus US officials wanted a nationalist in high office in South Vietnam to blunt some of Ho Chi Minh’s appeal. The result was that Bao Dai offered Diem the job he had always wanted – Prime Minister. Diem returned to Saigon on June 26, 1954, or several weeks after the arrival of Edward Lansdale, the chief of the CIA’s Saigon Military Mission, who was in charge of unconventional warfare..

Spellman’s Vietnam stance was in accordance with the wishes of the Pope. Malachi Martin, a former Jesuit who worked at the Vatican during the years of the escalating U.S. commitment to Vietnam, said the Pope wanted the US to back Diem because the Pope had been influenced by Diem’s brother, Archbishop Thuc. “The Pope was concerned about Communism making more gains at the expense of the Church,” Martin averred. “He turned to Spellman to encourage American commitment to Vietnam”.

Thus Spellman embarked on a carefully orchestrated campaign to prop up the Diem regime. Through the press and a Washington lobby, the problem of confronting anti-Communism in Indochina became widely known in America. One of the men Spellman aided in promoting the Diem cause was Buttinger, a former Austrian Socialist who headed the International Rescue Committee, an organization that had helped refugees flee Communism after Worl War II and now helped people fleeing North Vietnam. The Geneva Accords provided that people moving between the north and south should have 300 days in which to do so. The refugee problems were enormous. When he visited New York, Buttinger met with Spellman and explained the situation. The Cardinal placed him in touch with Joe Kennedy, who arranged meetings for Buttinger with the editorial boards of major publications such as Time and the Herald tribune. Editorials sympathetic to the plight of refugees fleeing Ho Chi Minh’s Vietnam began appearing in the American press.

Spellman and Kennedy also helped form a pro-Diem lobby in Washington. The rallying cries were anti-Communism and Catholicism. Through their connections, they soon had a high-powered committee, which was a lumpy blend of intellectuals and conservatives… Spellman’s man on the board was Monsignor Harnett, who headed the Cardinal’s Catholic Near East Welfare Association and now served as the Vietnam lobby’s chief link with the Catholic Relief Services.

To a large extent, many Americans came to believe that Vietnam was a preponderantly Catholic Nation. This misimpression resulted partly from Diem’s emergence as ruler. With the help of the CIA-rigged election in 1955, Diem abolished the monarchy and Bao Dai was forced to live in exile. The heavily Catholic hue to the Vietnam lobby also accounted for much of the widespread belief. Still another factor was Spellman’s identification with the cause.

Then there was the role of a winsome young Catholic doctor working in Vietnam named Tom Dooley. A navy lieutenant who operated out of Haiphong, Dooley worked with refugees. At one point Dooley, a favorite of Spellman, even organized 35000 Vietnamese Catholics to demand evacuation from the north. Dooley’s efforts were perhaps even more successful in the US than in Vietnam. He churned out newspaper and magazine articles as well as three best selling books that propagandized both the Catholic and anti-Communist nature of his beliefs. He fabricated stories about the suffering of Catholics at the hands of perverted Communists who beat naked priests on the testicles with clubs, deafened children with chopsticks to prevent them from hearing about God, and disembowed pregnant women. A graduate of Notre Dame in Indiana, Dooley toured the US promoting his books and anti-Communism before he died, in 1964, at age 34. One of the last people to visit his sickbed was Cardinal Spellman, who held up the young physician as an inspiration for all – another martyr. Dooley’s reputation remained untarnished until a Roman Catholic sainthood investigation in 1979 uncovered his CIA ties.

Dooley had helped the CIA destabilize North Vietnam through his refugee programs. The Catholics who poured into South Vietnam provided Diem with a larger political constituency and were promised US-supported assistance in relocating. The American public largely believed that most Vietnamese were terrified of the cruel ad bloodthirsty Viet Minh and looked to the God-fearing Diem for salvation. Many refugees simply feared retaliation because they had supported the French…

Spellman's propagandizing of the Catholic nature of Diem's regime reinforced a negative image of the Church's position in Vietnam. The sectarian nature of Diem's government and the problems of that government were noted by the writer Graham Greene, himself a Catholic, in a dispatch from Saigon printed in the London Sunday Times on April 24, 1955:

An unfortunate visit by Cardinal Spellman has been followed by those of Cardinal Gillroy and the Archbishop of Canberra. Great sums are spent on organizing demonstrations for the visitors, and an impression is given that the Catholic Church is occidental and an ally of the US in the cold war.

...The South, instead of confronting the totalitarian North with the evidence of freedom, has slipped into an inefficient dictatorship: newspapers suppressed, strict censorship, men exiled by administrative order and not by judgement of the courts. It is unfortunate that a government of this kind should be identified with one faith. Mr. Diem may well leave his tolerant country a legacy of anti-Catholicism.)

During his visit Spellman presented a check for $100000 to the Catholic relief Services, which was active in the refugee-relocation program and later administer a great deal of the US aid program, which closely bound the CRS to the US war effort and later led to the suspicion that the CRS had CIA ties. Turning to the Church to perform such a function was done in Latin America, among other places, but in Vietnam it eventually seemed to bear out Graham Greene’s warnings that the Church and the US were being tied to a cause unpopular among Vietnamese.

The potential for corruption in Vietnam was tremendous and also harmed the CRS’s reputation. Drew Parson estimated that in 1955 alone, the Eisenhower administration pumped more than $20 million in aid into Vietnam for the Catholic refugees. Unavoidably, there was much graft and corruption involved in getting food, medical supplies, and other goods from ship to villages. By 1976 the National Catholic Reporter, a hard-nosed weekly newspaper, reported apparent CRS abuses in articles such as one entitled “Vietnam 1965-1975. CRS Role: Christ’s Work – or the CIA’s” The abuses cited included using supplies as a mean of proselytizing; giving only Catholics aid mean for everyone, being identified with the military; and giving CRS goods to American and Vietnamese soldiers rather than to the civilians for whom the goods were meant.)


Phần II


Sau khi về làm Thủ Tướng và rồi Tổng Thống, ông Ngô Đình Diệm đã cai trị miền Nam như thế nào. Những tài liệu nhận định về con người Ngô Đình Diệm và chính quyền Ngô Đình Diệm của một số tác giả ngoại quốc có tên tuổi sau đây sẽ trả lời câu hỏi này. Những tài liệu này cũng còn cho thấy ý nghĩa đích thực của phong trào tranh đấu Phật Giáo 40 năm trước đây và không còn bị lừa dối bởi những luận điệu quái gở như Phật Giáo thân Cộng, Phật Giáo làm “mất nước” (sic) v..v.. của một đoàn thể đã nổi tiếng là “đã phi dân tộc thì thể nào cũng phản dân tộc.”

1. "Vietnam: Crisis of Conscience" by Robert McAfee Brown, Abraham J. Heschel & Michael Novak, Associated Press, New York 1967, p. 30:



Ký giả người Úc Denis Warner viết “Trong nhiều năm, cái chế độ bạo ngược chuyên chế mà Tây phương đồng minh với ở Saigon (chế độ Ngô Đình Diệm) thì còn tệ hơn là cái chế độ mà Tây phương đang chiến đấu để chống (chế độ CS)”. Diệm và gia đình ông ta đã giết hoặc lưu đày tất cả những thế đối lập. “Diệm đã mất đi sự tin cậy và trung thành của dân chúng” như Bộ Trưởng McNamara đã nhận định ngày 26 tháng 3, 1964.

(The Australian writer Denis Warner wrote that "the tyranny the West allied with in Saigon was in many years worse than the tyranny it was fighting against." Diem and his family had murdered or exiled all potential opposition. Diem had "lost the confidence and loyalty of his people," as Secretary McNamara put it on March 26, 1964.)

2. "Fire In The Lake" by Frances Fitgerald (Winner of the Pulitzer Prize, Winner of the National Book Award, Winner of the Bancroft Prize For History), Vintage Books, New York 1985, pp. 134-139:

Cái chất công giáo của Diệm, không hề mở mắt hắn đến với những ý tưởng mới, mà chỉ thuyết phục hắn là cai trị bằng nghi lễ và huấn thị đạo đức là có thể thành công, mà nó có vẻ như vậy trong các làng mạc ở miền Bắc và Trung sống trong cái vỏ bằng sắt và điều khiển bởi các linh mục.

Cái mà hắn ta không ý thức được là cái kiểu cai trị thiển cận như vậy của các giáo xứ có thể thực hiện chỉ vì người Pháp đã bảo vệ họ và tổ chức nền hành chánh quốc gia. Do đó, tham vọng của hắn phục hồi xã hội cổ xưa giống như là của những tên thực dân Pháp, coi mình như cha người ta, đã chống những chương trình cải cách của những giới chức hành chánh nơi thành thị – sự khác biệt là trong khi người Pháp giữ lãnh vực hiện đại cho riêng họ thì Diệm không nhận ra được sự quan trọng của vấn đề hiện đại hóa. Đối với hắn, thế giới hiện đại là Sài-Gòn, cái thị trấn ký sinh trùng đó đã trở nên béo mập bởi máu của thôn quê và lợi lộc của Tây phương...

Những ký giả như Robert Shaplen đã chỉ trích Diệm như làm cho những nông dân xa lánh vì những biện pháp đàn áp của hắn.

Một số đông những giới chức và ký giả, kể cả những người có nhiều kinh nghiệm và có khuynh hướng chính trị khác nhau như Douglas Pike, Chester Bowles, và chuyên gia chống nổi loạn người Anh, Robert Thompson, đều coi Diệm như là kẻ thù của chương trình chống Cộng.

Trong tất cả những năm cầm quyền, Ngô Đình Diệm chỉ có một đồng minh ở thôn quê, đó là những người Công giáo, đặc biệt nhất là những người di cư từ ngoài Bắc vào. Ngay từ đầu, Diệm dùng trong bộ máy hành chánh phần lớn là những người Công giáo, và thiên vị các làng Công giáo đối với phần còn lại của quốc gia. Những giới chức của Diệm, làm việc chặt chẽ với các linh mục, đem phần lớn viện trợ Mỹ cho các làng Công giáo, và phần lớn những nông sản. Chúng cho những người Công giáo quyền khai thác lâm sản và độc quyền sản xuất loại hàng hóa nông sản mới do các kỹ thuật gia Mỹ đưa vào giúp. “Theo đạo có gạo mà ăn” là một câu tục ngữ khi xưa của người Việt Nam dưới thời Pháp thuộc. Dưới thời Diệm người dân Việt đã phải theo cái lệnh này. Đặc biệt ở miền Trung, hàng ngàn người, trong vài trường hợp hầu như toàn thể khu định cư, theo đạo để tránh những dịch vụ cỏ vê của chính phủ, hoặc để tránh biện pháp tái định cư trong vài vùng rừng rú hay sình lầy gian khổ – để giúp những người Công giáo lân cận. Nuôi người Công giáo trong sự tổn hại của phần còn lại của dân chúng, lẽ dĩ nhiên, là một chính sách thiển cận, nhưng Diệm không thấy một đường lối nào khác, và Mỹ cũng không đề nghị cho Diệm một đường lối nào khác.

(Diem's Catholicism, far from opening him up to new ideas, only persuaded him that government by ritual and moral instruction could work, as indeed it seemed to in the ironclad, priest-ridden villages of the north and center.

What he did not realize was that such parochial governments could operate merely because the French protected them and organized the administration of the country. His ambition to restore the old society therefore resembled that of the paternalistic French colons who had opposed the reformist programs of the metropolitan administrators - the difference being that while the French wished to keep the modern sector for themselves, Diem did not recognize its importance. For him, the modern world was Saigon, that parasite city that fattened from the blood of the countryside and the lucre of the West.

...Journalists, such as Robert Shaplen, criticized Diem for alienating the peasants by his oppressive measures.

..A host of officials and journalists, including such experienced and politically diverse men as Douglas Pike, Chester Bowles, and the British counterinsurgency expert, Sir Robert Thompson saw Diem as the enemy of the anti-Communist project.

...In all the years of his reign Ngo Dinh Diem found only one ally in the countryside, and that was the Catholics, most particularly the northern refugees. From the beginning he staffed his administration heavily with Catholics and favored the Catholic villages over all the rest. The Diemist officials, working closely with the priests, saw to it that the Catholic villages took the bulk of US relief aid, the bulk of agricultural credit.

They gave the Catholics the right to take lumber from the national reserves and monopoly rights over the production of the new cash crops introduced by the American aid technicians. "Turn Catholic and have rice to eat", went the old Vietnamese saying under the French regime. Under Diem the South Vietnamese continued to follow the injunction. In Central Vietnam particularly, thousands of people, in some cases virtually whole settlements, turned Catholics so as to escape the government corvés or to avoid resettlement - for the benefit of their Catholic neighbors - into some hardship zone of jungle and swamp. To feed the Catholics at the expense of the rest of the population was, of course, a shortsighted policy, but Diem saw no alternative, and the Americans offered him none.)

3. "Background to Vietnam" by Bernard Newman. Signet Books, New York 1965, p. 117:

Bất kể hiến pháp viết như thế nào, Diệm cai trị như là một nhà độc tài. Triết lý chính trị của ông ta dẫn xuất từ một nhóm Công giáo Pháp, những người đã đặt ra thuyết Nhân Vị. Thuyết này nhấn mạnh đến nhân cách để chống với quan niệm đưa quần chúng vào kỷ luật của Cộng Sản. (Thực ra, đây chỉ là một chiêu bài chống Cộng vì trong cấu trúc toàn trị của Công Giáo thì tín đồ chỉ có quyền vâng phục các bề trên, do đó làm gì có Nhân Vị. TCN). Chi tiết về thuyết này phức tạp, khó hiểu đối với mọi người trừ một triết gia. Một chuyên gia Mỹ được mời đến để cố vấn cho hệ thống thuế má địa phương mô tả thuyết Nhân Vị như là “một pha trộn lộn xộn của những sắc lệnh của giáo hoàng và kinh tế mẫu giáo, tổ hợp với một sự nghi ngờ những tư nhân thương gia, một sự e ngại đầu tư ngoại quốc, và một quan niệm là không thể thành đạt được gì nhiều ở Việt Nam nếu không có sự kiểm soát của chính phủ.”

Trên thực tế chính phủ đây là chính phủ Diệm.

...Ngày tháng qua, cách cai trị của Diệm càng ngày càng trở nên không thể chịu được, và tới năm 1963 hắn là một nhà độc tài hoàn toàn, chỉ nghe những thân nhân trong gia đình. Hắn hoàn toàn xa lạ với quần chúng. Người ta phàn nàn là hắn đã trao những chức vụ tốt nhất cho người Công giáo: nhưng những người Công giáo là “người ngoại quốc” – những người di cư từ ngoài Bắc vào. Sự bất mãn đưa đến phong trào chính trị của Phật Giáo.”

(Whatever the constitution might say, Diem ruled as a virtual dictator. His political philosophy was derived from a group of French Catholics, who formulated a doctrine known as Personalism. It emphasises human dignity as opposed to the Communist concept of disiplined masses. Its detail is complicated, and difficult of comprehension to all but a philosopher. An

American expert who was called in to advise on the local system of taxation described Personalism as "a confused mélange of papal encyclicals and kindergarten economics, combined with a suspicion of private businessmen, a fear of foreign capital, and an attitude that little could be accomplished in Vietnam without direct government control."

In practice, it meant government by Diem.

...With the passing months Diem's attitude became more intolerable, and by 1963 he was the complete dictator, seeking advice only from his immediate relatives. He was completely aloof from the common people. It was complained that he gave all the best posts and showed all the favor to Catholics: but the Catholics were "foreigners" - refugees from the North Vietnam. The resentment brought about the rise of a Buddhist political movement.)

4. "Backfire: Vietnam - The Myths That Made Us Fight, the Illusions That Help Us Lose, The Legacy That Haunts Us Today" by Loren Baritz, Ballantine Books, New York 1985, pp. 83-85:

Công giáo Việt Nam phát triển do chính sách kỳ thị Phật Giáo một cách có hệ thống của Ngô Đình Diệm. Người Công giáo được dùng trong các dịch vụ dân sự, trong khi những người Công giáo sống trong những làng mạc thường không bắt buộc phải làm những công việc nặng nhọc làm đường xá và những việc công cộng. Không giống như những Chùa Phật Giáo, nhà thờ Công giáo được đặc quyền sở hữu tài sản đất đai, cũng như trong thời Pháp thuộc. Với thời gian, sự kỳ thị đối với tuyệt đại đa số dân chúng này đưa đến những phản đối chính trị chống Diệm của những nhà sư Phật Giáo.

...Diệm làm cho người Mỹ khó chịu không chỉ vì đường lối cai trị của hắn. Hắn thích thú trong việc đàn áp những đối lập chính trị mà hắn đã bắt giữ lên tới 40000 người. Đầu năm 1959, Diệm hợp thức hóa sự tàn bạo của mình bằng sự thiết lập những tòa án quân sự để xử những đối lập chính trị và xử tử hình trong vòng ba ngày. Những tòa án này bắt giữ, điều tra, và tuyên án những kẻ phạm tội.

Diệm hăng say đóng cửa những nhà báo không ủng hộ hắn. Tệ hơn cả, hắn dẹp bỏ cấp lãnh đạo trong các làng mạc và thay thế họ bằng những người của Diệm. Hắn đã trở thành một nhà độc tài.

(The Catholic Vietnamese thrived under Diem's systematic discrimination against the Buddhists. The Catholics were preferred in the civil service, while those who lived in the villages were not always required to do the hard labor of building roads and other public works. The Catholic Church, unlike the Buddhist Pagodas, had special rights to acquire and own property, as had been the case under the French. In time, this discrimination against the vast majority of the country would lead to politically lethal protests against Diem by the Buddhist bonzes.

...Diem annoyed Americans not only because his personal way of doing things. He was an enthusiast when it came to repressing his political opponents, of whom he arrested upwards of 40,000. In early 1959, Diem legalized his brutality by creating special military courts to try political opponents and to pass sentences of death in no more than three days. These courts made the arrests, conducted the inquiries, and sentenced the guilty.

...Diem closed newspapers that did not support him with the requisite fervor. Worst of all, he destroyed the leadership in the villages and replaced it with his own appointees. He had become a dictator.)

5. "A Bright Shining Lie" by Neil Sheehan, Vintage Books, New York 1989, p. 143:

Lansdale để cho những tiên kiến của mình đưa tới những giả định sai lầm... Lansdale nghĩ rằng những người Công giáo di cư từ miền Bắc là những người yêu nước đã “chiến đấu giành lại sự tự do của đất nước từ người Pháp”. Hắn không nhìn thấy sự sai lầm nào trong vấn đề Mỹ chỉ tin cậy vào sự trợ giúp đặc biệt của người Công Giáo. Hắn không nhìn thấy vấn đề có một người Công Giáo làm tổng thống của cái mà hắn quan niệm là “Việt Nam Tự Do” là không thích hợp.

Công giáo Rô Ma là một thiểu số có nhiều tỳ vết ở Việt Nam. Lansdale lo việc phân biệt giữa người Mỹ và những tên “thực dân” Pháp. Điều hắn làm là đưa ra sự phân biệt tuy chẳng có gì khác nhau.. Chỉ dựa vào người Công giáo giúp đỡ, và bằng cách đặt một người Công Giáo lên cầm quyền ở Saigon, hắn ta đã chứng tỏ là Mỹ đã nhảy vào thay thế người Pháp. Những người Việt Nam theo đạo Công giáo đã được người Pháp sử dụng như là một đạo quân thứ 5 để xâm nhập Việt Nam trước thời thuộc địa và những người Công Giáo đã được Pháp tưởng thưởng cho sự hợp tác của họ với những tên thực dân Pháp. Người Công Giáo thường bị coi như là thuộc một tôn giáo”ngoại lai”, “không phải là Việt Nam”. Với sự ra đi của người Pháp, hiển nhiên là người Công Giáo phải tìm một một ngoại bang khác để bảo vệ họ. Họ nói với Lansdale những gì mà họ cho rằng Landale muốn nghe...

..Trong sự hướng dẫn Diệm của Lansdale đến thành công bằng cách diệt các giáo phái dựa trên lý thuyết Diệm là Magsaysay để lập một chính phủ tập trung quyền lực mới, không bao giờ Lansdale lại nghĩ rằng Diệm bắt đầu chính sách cai trị của mình bằng cách loại bỏ những người chống Cộng hữu hiệu nhất ở miền Nam.

Dòng họ Ngô Đình tiến tới sự áp đặt trên miền Nam Việt Nam cái tôn giáo Công giáo ngoại lai của họ, đảng Công giáo bảo thủ từ ngoài Bắc vào và từ vùng quê hương của họ ở miền Trung. Diệm và gia đình bổ nhiệm những sĩ quan chỉ huy đơn vị, những nhân viên hành chánh và cảnh sát bằng những người Công giáo, từ miền Bắc và từ miền Trung, quê hương của Diệm. Diệm và gia đình hắn bổ nhiệm những người Công giáo vào cấp chỉ huy quân đoàn, hành chánh và cảnh sát. Nông dân ở miền đồng bằng sông Cửu Long thấy mình bị cai trị bởi những tỉnh trưởng, hạt trưởng, bởi những viên chức hành chánh ngoại lai và thường là cao ngạo và tham nhũng...

(Lansdale let his preconceptions lead him to false assumptions...Lansdale thought the Catholic refugees from the North were Vietnamese patriots who had "fought for their country's freedom from the French"..He saw nothing wrong with the US singling out these Catholics for special assistance. He saw nothing inappropriate about having a Catholic as president of what he perceived to be a "Free Vietnam"

Roman Catholics were a tainted minority in Vietnam. Lansdale was anxious to draw a distinction between Americans and French "colonialists." What he did was to make the distinction one without a difference...By singling out the Catholics for help, and by putting a Catholic in office in Saigon, he announced that the US was stepping in to replace the French. Vietnamese converts to Catholicism had been used by the French as a fifth column to penetrate precolonial Vietnam and then had been rewarded by the colonizer for their collaboration. They were popularly regarded as a foreign-inspired, "un-Vietnamese" religious sect. With the French leaving, the Catholics were naturally seeking another foreign protector. They told Lansdale what they sensed he wanted to hear.

...As Lansdale guided Diem to success in crushing the sects on the theory that Diem was the Magsaysay to form a new and central government, it would never have occured to Lansdale that Diem was beginning his rule by eliminating the most effective OPPONENTS of the Communists in the South.

...The Ngo Dinhs proceeded to impose on South Vietnam what amounted to their own alien sect of Catholics, Northern Tories, and Central Vietnamese from their home region. Diem and his family filled the officer corps of the army and the civil administration and the police with Catholics, Northerners, and Central Vietnamese they trusted. The peasants of the Mekong delta found themselves being governed by province and district chiefs, and by civil servants on the province and district administrative staffs, who were outsiders and usually haughty and corrupt men.)

6. "American in Vietnam" by Dr. John Guilmartin, United Press International/Bettmann, England 1991, p.69:

Những ảnh hưởng đối nghịch của sự thiếu khả năng và tính toán sai lầm của Diệm không chỉ chấm dứt ở sự thất bại về quân sự chống Việt Cộng. Nghi ngờ tất cả những người không có cùng đức tin Công giáo của mình, và hoan hỉ với sự thành công trong việc dẹp bỏ các giáo phái Cao Đài và Hòa Hảo, họ khởi sự chiến dịch chống Phật Giáo.

(The adverse effects of the Diem's ineptitude and miscalculation did not end with military failure against the Viet Cong. Suspicious of all who did not share their Catholic faith, and having enjoyed success in suppressing the Hoa Hao and Cao Dai, they embarked on an anti-Buddhist campaign.)

7. "Vietnam: The Valor and the Sorrow" by Thomas D. Boettcher, Little Brown & Company, Boston 1985, p.150:

“Trong 10 đô la viện trợ thì 8 được dùng cho nội an chứ không dùng cho công tác chiến đấu chống du kích Cộng sản hay cải cách ruộng đất. Diệm lo lắng về những cuộc đảo chánh hơn là Cộng sản.

...Như là hậu quả của những biện pháp đàn áp càng ngày càng gia tăng, sự bất mãn của quần chúng đối với Diệm cũng càng ngày càng tăng, bất kể là toan tính của Diệm dập tắt sự bất mãn này trong mọi cơ hội. Hàng triệu nông dân ở những vùng quê trở thành xa lạ đối với Diệm. Không lạ gì, hoạt động của Cộng sản gia tăng cùng với sự bất mãn của quần chúng. Và những biện pháp đàn áp của Diệm cũng gia tăng theo cùng nhịp độ. Nhiều ngàn người bị nhốt vào tù.

Cho tới năm 1960, điều khác biệt duy nhất giữa hai chính quyền Ngô Đình Diệm và Hồ Chí Minh là ở những lá cờ của họ.”

(Eight of ten American aid dollars went for internal security, not to fight Communist guerrillas or implement reforms such as land redistribution. Diem was more worried about coups than Communists.

..As a consequence of his increasingly repressive internal measures, popular discontent with Diem gradually intensified, despite his attempt to squelch it at every opportunity. The millions of peasants in the countryside became estranged from him.. Not surprisingly, Communist activity intensified as discontent increased. And Diem's repressive measures increased accordingly. Thousands were put in jail..

By 1960, the only difference between the governments of Ngo Dinh Diem and Ho Chi Minh was their flags.)

8. "The Indochine Story" by the Committee of Concerned Asian Scholars, A Bantam Book, New York 1970, pp. 32 & 34:

“Một nhân vật Mỹ ủng hộ Diệm lúc đầu kết luận: Lạm dụng quyền lực, độc tài, tham nhũng, coi thường cấp dưới, và không đếm xỉa gì đến nhu cầu của dân chúng một cách ác độc, đó là tấm gương mà gia đình họ Ngô để cho những bộ trưởng, nhà lập pháp, tướng lãnh, tỉnh trưởng, trưởng làng mà họ Ngô dùng như những quân cờ noi theo.

Đàng sau gia đình nhà Ngô là Mỹ. Ở dưới gia đình này chẳng có gì mấy. Gia đình này đã trải cái bóng của họ trên xã hội Việt Nam; tuy nhiên cái rễ của họ thật sự chỉ cắm nông vào đất Việt. Điều này định trước những phương pháp Diệm dùng để kiểm soát đất nước... Chỉ có một đường lối: đàn áp và củng cố quyền lực trong tay những anh em và thuộc hạ của Diệm.. Săn lùng toàn diện những người bất mãn được tổ chức ở thôn quê năm 1956, và tăng gia cường độ khi tình hình suy kém.

75000 người hay hơn nữa bị giết trong chiến dịch này. Còn nhiều người hơn nữa bị tống giam bởi sắc lệnh số 6 của tổng thống, ký trong tháng 1, 1956. Sắc lệnh nói: “Những cá nhân coi là nguy hiểm cho quốc phòng và an ninh chung có thể bị bắt giam trong những trại tập trung do lệnh của cơ quan hành pháp. Tình trạng trong những trại tập trung của Diệm, chỉ bị phanh phui sau khi Diệm đổ, thật sự nhơ nhớp. Cố ý để cho chết đói, cố ý làm cho mù, cố ý hành hạ..., danh sách này thật là dài.”

(An early American supporter of Diem concluded: Abuse of power, nepotism, corruption, contempt for inferiors, and cruel disregard of the needs of the people were the example set by the Ngo's "Family" for the ministers, legislators, generals, province chiefs, and village commissioners whom they used as pawns.

Behind the family stood the US. Below it stood very little at all. It threw its shadow over all Vietnamese society; yet its roots penetrated shallowly indeed into Vietnamese soil. This predetermined the methods by which Diem could extend his control over the country...Only one way was open: repression and further consolidation of power in the hands of his brothers and their followers...Full scale manhunts against dissidents were organized on the rural areas in 1956, and increased in later years as the situation deteriorated.

75,000 or more people were killed in this campaign. As many or more were incarcerated under Presidential Ordinance No. 6, signed in January 1956 "Individuals considered dangerous to national defense and commun security," it said, could be confined by executive order in a "concentration camp." Conditions in Diem's "reeducation centers," brought to light only after his overthrow in 1963, were sordid indeed. Deliberate starvation, deliberate blinding, deliberate maiming. The list is long."

9. "The Story of Vietnam" by Hal Dareff, An Avon Camelot Book, New York 1966, p. 108:



“Nay Diệm đã thắng mọi kẻ thù, anh em nhà Diệm muốn chắc rằng không ai có thể bứng họ đi. Ở ngoài mặt, Nam Việt Nam là một thể chế Cộng Hòa với một hiến pháp mới toanh hứa hẹn tự do và dân chủ cho quần chúng. Tuy nhiên, thực tế thì lại trái ngược hẳn... Nhu là cánh tay phải của Diệm.. Hắn tổ chức gian lận bầu cử, đưa vào quốc hội những tay sai của hắn, và sai bọn Cần Lao đi rình mò khắp nước để kiếm những người chống đối hắn.

Chế độ Diệm bắt đầu thoái trào vào đầu năm 1963. Tổng thống cai trị dân trong dinh thự của mình như là một thể chế quân chủ, cắt lìa khỏi quần chúng. Sự thù ghét Diệm và gia đình hắn gia tăng đến độ người ta có thể cảm thấy đầy trong bầu không khí ở Saigon. Tin đồn về đảo chánh loan truyền trong thành phố hầu như hàng ngày. Trong những hoàn cảnh như vậy, Diệm chỉ lo bám chặt vào quyền lực. Cuộc chiến (chống Cộng) trở thành thứ yếu. Sĩ quan được thăng cấp nếu giữ được mức tổn thất thấp. Chỉ có một cách chắc chắn giữ được như vậy – không tác chiến. Không tác chiến đã trở thành một cách sống đối với một số cấp chỉ huy và là cách duy trì địa vị.

...Cuộc tranh chấp giữa Diệm và các Phật tử đã được tích lũy kể từ ngày Diệm lên làm thủ tướng năm 1954. Diệm, một tín đồ Công giáo, đương nhiên là cảm thấy thoải mái hơn đối với những tín đồ Công giáo khác. Nhiều chức vụ chỉ huy trong chính quyền và quân đội được trao cho những người Công giáo, những người này được đặc quyền đặc lợi làm tiền trong những thương vụ của chế độ.

Trong số 15 triệu dân ở miền Nam Việt Nam, hơn 1 triệu một chút là người Công giáo. Phần còn lại, phần lớn là Phật tử, phẫn nộ vì chính sách thiên vị người Công giáo. Sự đối xử khác biệt này còn trắng trợn hơn ở các tỉnh lỵ, nơi đây các linh mục địa phương và các giới chức chính quyền, hầu hết là Công giáo, có toàn quyền. Khi các ấp chiến lược được dựng lên, những người Công giáo được miễn làm việc và những người phi-Công giáo bị đưa vào chỗ thay thế họ để làm những công việc lao dịch. Những vùng đất mới được mở mang và phát triển, người Công giáo được chọn những miền đất phì nhiêu ở những miền duyên hải có an ninh. Những đất đai dành cho Phật tử ở sâu trong nội địa, ở đây họ phải lao động dưới sự đe dọa của Việt cộng. Nhiều Phật tử theo đạo (không có nghĩa là tin đạo. CTN) để được sống dễ dàng hơn.”

(Now that Diem had won out over all his foes, the brothers wished to make sur that no one else would unseat them. On the surface, South Vietnam was a republic with a brand-new constitution promising freedom and democracy to its people. In practice, however, the very opposite was true...Nhu was Diem's right arm...He fixed elections, packed the National Assembly with his henchmen and hirelings, and sent his Can Lao prowling the country in search for dissidents..

Twilight had begun to settle over the regime of Ngo Dinh Diem as the year 1963 began. The president ruled in his palace like a monarch cut off from his people. Hatred of him and his family mounted until the air of Saigon seethed with it. Runors of plots and coups swirled through the city almost daily. In these circumstances, Diem sought only to hold on to his power. The war became secondary. Officers were promoted when they kept the casualty lists down. There was only one sure way to do that - not to fight. Not fighting became a way of life with some commanders and a way of keeping their jobs.

...A showdown between Diem and the Buddhists had been building ever since he became premier in 1954. Diem, a Catholic, naturally felt more at home with other Catholics. Many of the leading posts in the government and army were held by Catholics, who were also privileged when it came to making money out of business deals engineered by the regime.

Of the 15 million people of South VN, a little more than a million were Catholic. The rest, mainly Buddhist, resented the favoritism shown Catholics. The difference in treatment was even more blatant in the provinces where the local priests and government officials, mostly Catholic, too, were all-powerful. When strategic hamlets were built, the Catholic inhabitants were exempted from working and non-Catholics were brought in to labor in their places. When new land was opened for development, Catholics got the pick of the land in the safe coastal regions. The land given to Buddhists was inland, where they would have to work under the menacing shadow of the Viet Cong. Many Buddhists, seeing where the grass was greener, tried to become Catholics.)

10. The Two Viet-Nams" by Bernard B. Fall, Frederik A. Praeger Publisher, New York 1967:

Trang 236: Tính hiếu chiến của ông Ngô Đình Diệm thuộc loại như thế này: Đức tin của ông ta ít có tính chất từ ái của các tông đồ hơn là tính hiếu chiến tàn nhẫn của một Đại Phán Quan Tây Ban Nha của Tòa Án Dị Giáo (Torquemada); và Quan điểm của ông ta về chính quyền thì ít có tính chất của một tổng thống theo hiến định của một nước cộng hòa hơn là một bạo chúa theo truyền thống quan lại phong kiến . Một người Pháp theo Công Giáo khi nói chuyện với ông ta muốn nhấn mạnh về ảnh hưởng văn hóa Pháp đối với ông Diệm đã nhấn mạnh những từ như "tín ngưỡng của chúng ta", thì Diệm thản nhiên trả lời rằng: "Ông biết mà, tôi tự coi tôi như là một người Công Giáo Tây Ban Nha", có nghĩa là, ông ta là một đứa con tinh thần (của Giáo Hội La Mã) của một đức tin hung hăng, hiếu chiến hơn là một tín đồ dễ dãi và khoan dung giống như người Pháp theo hệ phái Công Giáo Gallican."

(Ngo Dinh Diem's militancy is of that kind: His faith is made less of the kindness of the apostles, than of the ruthless militancy of the Grand Inquisitor; and his view of government is made less of the constitutional strength of a President of the republic than of the petty tyranny of a tradition-bound mandarin. To a French Catholic interlocutor who wanted to emphazise Diem's bond with French culture by stressing "our common faith," Diem was reported to have answered calmly: "You know, I consider myself rather as a Spanish Catholic," i.e., a spiritual son of a fiercely aggressive and militant faith rather than of the easygoing and tolerant approach of Gallican Catholicism.)

Trang 250: “Trong số những người lên cầm quyền cùng với Diệm năm 1954-55, KHÔNG MỘT NGƯỜI NÀO còn giữ chức vụ bộ trưởng khi Diệm bị giết năm 1963. Một vài người bị lưu đày ở Pháp hoặc Mỹ, và một vài người rút lui với thái độ trông chờ ở Saigon. Một sự dập theo những phương pháp toàn trị của Cộng sản Cần Lao Nhân Vị Cách Mạng Đảng của Ngô Đình Nhu. Đảng này trở thành một hệ thống quyền lực hoàn toàn giống như của Cộng sản, với những thành viên mật và chỉ biết nhau trong những tổ 5 người, và những “nhóm hành động” có nhiệm vụ dẹp bỏ mau chóng và kín đáo những người đối lập... Như vậy, chế độ Diệm sai lầm trong hai phương diện: Quân đội không bao giờ thực sự hữu hiệu, và các sĩ quan ở quân đoàn thì không trung thành với những ông chủ dân sự và nhắm mắt làm ngơ trước sự thất bại của chế độ.

Trong sự mô tả đảng Cần Lao, John C. Donnell định nghĩa Cần Lao như là “một đảng chính trị mạnh gồm những thành viên thường tin rằng mình thuộc những đảng chính trị khác và ngự trị những đảng này.” Nói cách khác, những hoạt động trong hệ thống nội bộ của họ y hệt như của đảng Cộng sản: dò thám bạn bè, xâm nhập đồng minh, và hoạt động như “một quốc gia trong một quốc gia” trong chính guồng máy chính quyền của mình. Nếu không còn cái gì khác, những điều trên có thể làm cho chế độ Nam Việt Nam mang nhãn hiệu một loại “dân chủ của quần chúng” chống-Cộng mà sự khác biệt lớn nhất đối với người anh em song sinh Cộng sản Bắc Việt Nam là thái độ hành trì Công giáo và là sở hữu chủ của những đồn điền cao su.”

(Of the men who came to power with Diem in 1954-55, NOT ONE still held a cabinet portfolio when he was murdered in 1963. Some were sent into exile in France or the US, and a few simply retired and maintained a "wait-and-see" attitude in Saigon. Another imitation of Communist totalitarian methods was Ngo Dinh Nhu's Can-Lao Nhan-Vi Cach Mang Dang, which became the perfect hierarchie paralle’le, with its secret membership and five-men cells whose members knew only each other, and "action groups" that could swiftly and quietly do away with bothersome oppositionists...As it was, the Diem regime erred on both counts: Its army never became really proficient, and its officer corps remained disloyal to its civilian masters and connived in their demise.

In his description of the Can Lao, John C. Donnell defined the Can-Lao as a "powerful elite political party whose members are commonly believed to belong to other political parties also and to dominate them." In other words, it did within its own system exactly what a Communist Party would do: It spied on its own friends, infiltrated its own allies, and acted as a "state within a state" in its own government's machinery. If nothing else, this would brand the South Vietnamese regime as a sort of anti-Communist "people's democracy" whose major difference from its Communist North Vietnam TWIN was its attitude toward the practice of Catholicism and the ownership of rubber plantations.)


11. "An Eye For The Dragon" by Dennis Bloodworth; Farrar, Straus & Giroux, New York 1970, p. 209:

“Cho tới năm 1963 mật vụ của Diệm đã bắt giữ hoặc đẩy vào tay những kẻ thù hầu như mọi người quốc gia có tên tuổi đã chiến đấu cho tự do của đất nước trong 20 năm trước. Hắn và gia đình hắn đã đàn áp mọi đối lập, chất đầy nhà tù, bịt miệng báo chí, gian lận bầu cử, và bám vào quyền lực.”

(...By 1963 Diem's secret police had picked up or pushed into the arms of his enemies nearly every prominent nationalist who had fought for the freedom of his country during the previous 20 years. He and his familly suppressed all opposition, filled the jails, muzzled the press, rigged the elections, and clung to all power..)

12. " Intervention and Revolution" by Richard J. Barnet, A Meridian Book, New York 1972, pp. 233-235:

“Khuyến cáo rằng “nếu bầu cử được tổ chức ngày nay (1956) thì tuyệt đại đa số dân Việt sẽ bầu cho Cộng sản,” Cherne tuyên bố rằng uy tín của Mỹ ở Á Châu tùy thuộc vào sự ngăn chận cuộc bầu cử này. Phương pháp giải quyết là củng cố lớp người Công giáo ở miền Nam Việt Nam, chỉ có những người này mới có lý do thuộc về lý tưởng chống Cộng. Nhà văn Công giáo người Anh, Graham Greene, đã mô tả việc Mỹ sử dụng giáo hội Công giáo trong cuộc chiến tranh lạnh ở Việt Nam như sau:

Chính cái ý hệ Công giáo đã làm cho chế độ của ông Diệm sụp đổ, vì sự sùng tín của ông ta đã bị các cố vấn Hoa Kỳ khai thác cho đến khi giáo hội Công giáo ở Việt Nam ở trong cơ nguy cùng chung số phận bất thiện cảm của người dân Việt đối với Mỹ...Những khoản tiền to lớn được dùng để tổ chức những cuộc đón tiếp quan khách ngoại quốc và tạo nên ý niệm giáo hội Công giáo là của Tây phương và là đồng minh của Mỹ trong cuộc chiến tranh lạnh. Trong những trường hợp hiếm hoi mà Diệm đi kinh lý những vùng trước đây bị Việt Minh chiếm, bao giờ cũng có một linh mục ở bên cạnh, và thường là một linh mục Mỹ...

Điều quan tâm chính của chính quyền Diệm là sự an toàn của chính quyền. Chính quyền Diệm sợ rằng cuộc bầu cử dự định tổ chức vào tháng 7, 1956 đưa đến sự thắng lợi của Hồ Chí Minh và chấm dứt quyền lực của những chính trị gia không Cộng sản..

Những ước tính của cơ quan tình báo quốc gia CIA, soạn trong tháng 2, 1957, mô tả chế độ Diệm như sau:

Chế độ Diệm phản ánh ý nghĩ của Diệm. Một bộ mặt chính quyền đại diện cho dân được duy trì, nhưng thực chất chính quyền là độc tài. Quyền lập pháp của quốc hội bị hạn chế gắt gao; quyền tư pháp chưa phát triển và tùy thuộc quyền hành pháp; và những nhân viên trong ngành hành pháp không gì hơn là những tay sai của Diệm. Không có một tổ chức đối lập nào, dù trung thành hay không, được phép thành lập, và mọi chỉ trích chính quyền đều bị đàn áp...Quyền lực và trách nhiệm tập trung nơi Diệm và một nhóm nhỏ gồm có những thân nhân của Diệm, những người quan trọng nhất là Nhu và Cẩn.”

Chế độ độc tài của Diệm, dựa trên một mạng lưới mật vụ, tòa án quân sự, và công chức tham nhũng, tuyên bố không những chiến đấu chống Cộng mà cho tới năm 1957 Cộng sản vẫn chưa có hoạt động gì, mà còn chống bất cứ nhóm nào không chắc là trung thành với Diệm. Thật vậy, nhiều người không-Cộng-sản vào tù hơn là người Cộng sản.

...Sự chuyên chế của Diệm, sự thiên vị trơ trẽn của hắn đối với những người Công giáo tị nạn từ ngoài Bắc vào so với phần còn lại của dân chúng, và sự bạo hành của hắn đối với mọi người không đồng quan niệm chính trị với hắn đã tạo nên một sự liên kết chống hắn mà hắn rất sợ.”

(Warning that "if the elections were held today the overwhelming majority of Vietnamese would vote Communist," Cherne declared that American prestige in Asia was dependent upon preventing that result. The answer was to strengthen the Catholic faction in South Vietnam, who alone among Vietnamese had ideological reasons to be against the communists. The British Catholic writer Graham Greene has described the American use of the Catholic Church

in fighting the Cold War in Vietnam:

It is a Catholicism which has helped to ruin the government of Mr. Diem, for his genuine piety...has been exploited by his American advisors until the Church is in danger of sharing the unpopularity of the US...Great sums are spent on organized demonstration for the visitors, and an impression is given that the Catholic Church is occidental and an ally of the US in the cold war. On the rare occasions when Mr. Diem has visited the areas formerly held by the Viet Minh, there has been a priest at his side, and usually an American one.

...The major interest of the Diem government was its own security. It feared that the elections scheduled for July, 1956, would spell a victory for Ho Chi Minh and the end of power for noncommunist politicians....

The CIA national intelligence estimates prepared in February, 1957, described the Diem regime in these words:

Diem's regime reflects his idea. A facade of representative government is maintained, but the government is in fact essentially authoritarian. The legislative powers of the National Assembly are strictly circumscribed; the judiciary is underdeveloped and subordinate to the executive; and the members of the executive branch are little more than the personal agents of Diem. No organized opposition, loyal or otherwise, is tolerated, and critics of the regime are often repressed...The exercice of power and responsibility is limited to Diem and a very small circle mainly composed of his relatives, the most important being Nhu and Can.

...Diem's dictatorship, supported with a network of informers, military tribunals, and corrupt functionaries, declared war not only on the communists, who until 1957 were quiescent, but also against any group whose personal loyalty was not assured. Indeed, more non-communists than communists ended up in Diem's jails.

...Diem's despotism, his shameless favoring of Catholic refugees from the North over the rest of the population, and his persecution of all political dissidents produced the coalition against him that he dreaded.)

13. "Vietnam Revisited" by David Dellinger, p. 35:

Ngay từ lúc đầu Diệm đã có khuynh hướng toàn trị và gia đình trị mà 8 năm sau dư luận quần chúng lên án chính quyền của hắn.

“Khuynh hướng toàn trị” của Diệm đã đưa đến việc thành lập một đảng chính trị riêng tư, đảng cần Lao, một đảng duy nhất. [Thời đó không thấy ai đòi đa nguyên đa dảng. TCN]

Đảng Cần Lao cũng phục vụ hắn như là mật vụ, dập theo khuôn mẫu của Nhật Bản trong Thế Chiến II – mà Diệm đã nghiên cứu kỹ chi tiết.

Như chúng ta đã thấy, đảng này đã giết hại 90000 người và cầm tù 800000 trong đó có nhiều người bị tra tấn.

..Khi Diệm về Việt Nam năm 1954, một người Công giáo theo lệnh của một thế lực ngoại quốc về cai trị một nước mà 80% là Phật tử, CIA đã thuê vài trăm người để hoan hô hắn tại bến tàu. Nhưng cả CIA lẫn những giới chức Mỹ ủng hộ Diệm đều không làm sao làm ngược được sự kiện là Diệm không có sự ủng hộ của quần chúng, chính sách đàn áp đẫm máu của Diệm đối với từ các nhà sư Phật giáo và các tín đồ Hòa Hảo, Cao Đài cho tới những nông dân yêu nước, giới tư sản tôn trọng luật pháp, trật tự và một chút công lý, và những tướng lãnh đối thủ – “kéo theo (và đã xảy ra) tất cả những khó khăn vì một con người với nhân cách như vậy.”

(From the very beginning Diem displayed that tendency toward autocracy and family rule for which the mass media would belatedly condemn his administration 8 years later.

Diem's "tendency toward autocracy" led to the formation of a private political party, the Can Lao, which was the only party.

The Can Lao also served as a secret police, modeled after the system the Japanese used in Vietnam during WWII - which Diem had studied in detail.

It also produced, as we have seen, the death of 90,000 opponents and the imprisonment of another 800,000, with many of them tortured...

...When Diem first arrived in Vietnam in 1954, a Catholic coming to rule at the behest of a foreign power in a country whose population was 80% Buddhists, the CIA had hired a crowd of several hundred "welcomers" to greet him at the dock.

But not even the CIA and Diem's more respectable US backers could permanently counteract his lack of an indigenous base, his bloody suppression of all opposition, from Buddhist monks and members of the Hoa Hao and Cao Dai indigenous religions to peasant patriots, bourgeois devotees of law, order and a modicum of justice, and rival generals - "all the difficulties the presence of such a personality would [and did] entail.")

14. "Vietnam: Why Did We Go?" by Avro Manhattan, Chick Publication, California 1984, pp. 56 & 89:



“Tổng thống Ngô Đình Diệm của Nam Việt Nam là một ngưòi theo đạo Công giáo cai trị Nam Việt Nam bằng một bàn tay sắt. Hắn ta thật tình tin rằng Cộng sản là ác và giáo hội Công giáo là duy nhất. Hắn đã được hồng y Spellman và giáo hoàng Pius XII trồng vào cái ghế tổng thống. Hắn đã biến cải ngôi vị tổng thống thành một nhà độc tài Công giáo, tàn nhẫn nghiền nát những đối lập chính trị và tôn giáo. Nhiều nhà sư Phật giáo tự thiêu để phản đối những sự bạo hành tôn giáo của hắn. Sự bạo hành kỳ thị đối với người phi-Công giáo, đặc biệt là các Phật tử, đã gây nên sự rối loạn trong chính phủ và trong quân đội thì quân nhân đào ngũ hàng loạt. Điều này đưa đến sự can thiệp quân sự của Mỹ.

Trong chính sách khủng bố này hắn được sự phụ giúp của hai người anh em Công giáo, người đứng đầu mật vụ (Ngô đình Nhu) và tổng giám mục ở Huế (Ngô đình Thục).

Người ta ghi nhận rằng, và những con số sau đây tuy không được chính quyền chính thức khẳng định nhưng có thể coi là đáng tin cậy, là trong thời gian kinh hoàng từ 1955 đến 1960 – ít nhất là có 24000 người bị thương, 80000 bị hành quyết hay bị ám sát, 275000 người bị cầm tù, thẩm vấn hoặc với tra tấn hoặc không, và khoảng 500000 bị đưa đi các trại tập trung. Đây chỉ là những con số ước tính bảo thủ, khiêm nhường.

Đặt quyền lợi quốc gia ra đàng sau để đẩy mạnh quyền lợi tôn giáo của hắn, kết quả là tên độc tài Diệm đã đưa đất nước xuống vực thẳm.”

(President Ngo Dinh Diem of South Vietnam was a practicing Catholic who ruled South Vietnam with an iron fist. He was a genuine believer in the evil of Communism and the uniqueness of the Catholic Church. He had originally been "planted" into the presidency by Cardinal Spellman and Pope Pius XII. He transformed the presidency into a virtual Catholic dictatorship, ruthlessly crushing his religious and political opponents. Buddhist monks committed suicida by fire, burning themselves alive in protest against his religious persecutions. His discriminatory persecution of non-Catholics, PARTICULARLY BUDDHISTS, caused the disruption of the government and mass desertions in the army. This eventually led to US intervention in South Vietnam.

In this terrorization he was aided by his two Catholic brothers, the Chief of the Secret Police and the Archbishop of Hue.

...It has been reckoned, and the figures although lacking any official confirmation are considered to be concretly reliable, that during this period of terror - that is from 1955 to 1960 - at least 24,000 were wounded, 80,000 people were executed or otherwise murdered, 275,000 had been detained, interrogated with or without torture, and about 500,000 were sent to concentration or detention camps. This is a conservative estimate.

...With the result that by relegating the interest of his country to the background, so as to further the interests of his religion, dictator Diem finally brought his land into the abyss.)

15. "Nobody Wanted War" by Ralph K. White, A Doubleday Anchor Book, New York 1970, p. 91:

“Diệm, người em dở điên và vợ hắn (Nhu và vợ), đã làm cho mọi nhóm quan trọng trong nước, kể cả nhóm chống Cộng thực tế nhất, nhóm này đã thấy rõ gia đình Diệm đã hạ thấp và làm yếu đi cuộc tranh đấu chống Cộng, và sau cùng cả những sĩ quan cao cấp trong quân đội, những người mà mọi tên độc tài không được lòng người phải trông cậy vào họ để sống còn, xa lìa.

Theo Malcolm Browne, chế độ Diệm đã bị cả nước oán ghét. Nếu nhà Ngô còn cầm quyền cho đến ngày nay (1965) thì chắc chắn là Việt Nam sẽ hoàn toàn là Cộng sản.” [Bọn Công giáo hoài Ngô ngày nay vẫn còn đưa ra luận điệu “Còn cụ thì không mất nước”]

(Diem, his half-mad brother Nhu and his brother's wife had alineated one by one every important group in the country, including most of the realistic anti-Communists who saw how the Ngo family was debassing and weakening the anti-Communist struggle, and at last including the upper echelon of the armed forces, on which every unpopular dictator must rely for survival.

According to Malcolm Browne, there was a "sweeping hatred" of the regime throughout the country. If the Ngo family had remained in charge there is little doubt that Vietnam would be entirely Communist today. (1965).)

16. "The Political Economy of Human Rights. Vol I" by Noam Chomsky and Edward S. Herman, Black Rose Books, Canada 1979, pp. 30, 302-303:

“Joseph Buttinger, một cố vấn của Diệm lúc đầu và là người đã bày tỏ sự ủng hộ Diệm nồng nhiệt nhất trong thập niên 1950, khẳng định là gọi Diệm là phát xít thì không thích hợp vì, tuy chế độ Diệm có tất cả những sự xấu xa của chế độ phát xít, Diệm thiếu cơ sở quần chúng mà Hitler và Mussolini đã có thể tập hợp được.

..Theo Jeffrey Race, một cựu cố vấn quân sự Mỹ cho Nam Việt Nam có rất nhiều tài liệu về lịch sử Việt Nam cận đại, chính quyền Diệm đã khủng bố người dân nhiều hơn là phong trào cách mạng nhiều – thí dụ, thủ tiêu các cựu kháng chiến quân Việt Minh, bắn pháo binh vào những “làng cộng sản” và bắt bớ những người “có thiện cảm với cộng sản”. Cũng chính vì những chiến thuật đó mà lực lượng của phong trào cách mạng càng ngày càng gia tằng ở Long An từ 1960 đến 1963.

..Sử gia của Ngũ Giác Đài viết về “bệnh gần như hoang tưởng của Diệm lo lắng về vấn đề an ninh,” đưa đến những chính sách “khủng bố toàn diện nông dân Việt Nam, và làm suy giảm trầm trọng sự ủng hộ chế độ của quần chúng.”

Sự dùng bạo lực quá mức và trả thù những người cựu kháng chiến của Diệm là sự vi phạm trắng trợn Hiệp Định Genève (Khoản 14c), cũng như là sự từ chối không thi hành điều khoản tổng tuyển cử trên toàn quốc (vào tháng 7, 1956) của Diệm. Lý do chính mà Diệm từ chối không thi hành điều khoản này vào những năm 1955-56 (tổ chức và tổng tuyển cử trên toàn quốc) thật là hiển nhiên: viên quan lại ly hương nhập cảng từ Mỹ vào chỉ có một sự ủng hộ tối thiểu của quần chúng và ít có hi vọng thắng trong một cuộc tổng tuyển cử...Diệm là mẫu người điển hình của một tên bạo chúa phát xít, dùng khủng bố để bù đắp cho sự thiếu hụt sự ủng hộ của quần chúng..”

(Joseph Buttinger, an early advisor to Diem and one of his most outspoken advocates in the 1950s, contends that the designation "fascist" is innapropriate for Diem because, although his regime had most of the vicious characteristics of fascisme, he lacked the mass base that a Hitler or Mussolini could muster.

...According to Jeffrey Race, a former US Army advisor in South Vietnam who had access to extensive documentation on recent Vietnamese history, ..the government terrorized far more than did the revolutionary movement - for example, by liquidations of former Vietminh, by artillery and ground attacks on "communist villages" and by roundups of "communist sympathizers". Yet it was just these tactics that led to the constantly increasing strength of the revolutionary movement in Long An from 1960 to 1963.

...The Pentagon historian refers to "Diem's nearly paranoid preoccupation with security," which led to policies that "thoroughly terrified the Vietnames peasants, and detracted significantly from the regime's popularity."

...Diem's extensive use of violence and reprisals against former Resistance fighters was in direct violation of the Geneva Accords (Article 14c), as was his refusal to abide by the election proviso. The main reason for Diem's refuse to abide by this mode of settlement in 1955-56 was quite evident: the expatriate mandarin imported from the US had minimal popular support and little hope for winning in a free election...Diem was a typical subfascist tyrant, compensating for lack of indigenous support with extra doses of terror..)

17. "The American Pope" by John Cooney, A Dell Book, New York 1984, pp. 309-312:

“Lập trường của (hồng y) Spellman về Việt Nam phù hợp với những mong ước của giáo hoàng. Malachi Martin, một cựu tu sĩ dòng tên phục vụ tại Vatican trong những năm Mỹ leo thang chiến tranh ở Việt Nam, nói rằng giáo hoàng muốn Mỹ ủng hộ Diệm vì giáo hoàng đã bị người anh của Diệm, Tổng giám mục Thục, ảnh hưởng. “Giáo hoàng quan tâm đến sự càng ngày càng thắng lợi của Cộng sản do đó làm suy yếu giáo hội,” Malachi xác nhận rằng: “Giáo hoàng ra lệnh cho Spellman khuyến khích Mỹ tham chiến ở Việt Nam.”

Do đó Spellman xếp đặt một chiến dịch hòa điệu kỹ càng để dựng lên chế độ Diệm. Qua báo chí và vận động trong hậu trường ở Washington, vấn đề đối đầu chống Cộng ở Đông Dương được phổ biến rộng rãi ở Mỹ.

Spellman và Kennedy cũng còn giúp lập lên một nhóm vận động hậu trường Washington. Chủ trương của sự đồng minh này là chống Cộng và phát huy ý hệ Công giáo.

..Do đó, rất nhiều người Mỹ tin rằng Việt Nam là một quốc gia phần lớn là Công giáo. Một phần của cái ấn tượng sai lầm này là kết quả của việc Diệm lên cầm quyền. Với sự giúp đỡ của CIA tổ chức cuộc bầu cử gian lận năm 1955, Diệm hủy bỏ chế độ quân chủ và Bảo Đại bị cưỡng bức phải sống trong cảnh lưu đầy. Cái màu sắc Công giáo đậm đà trong cuộc vận động hậu trường Việt Nam cũng góp phần tạo nên quan niệm sai lầm trên. Còn một yếu tố khác là sự đặt mình vào trong đường lối trên của Spellman.

...Sự tuyên truyền của Spellman về bản chất Công giáo của chính quyền Diệm đã làm rõ rệt thêm hình ảnh không đẹp về vị thế của giáo hội ở Việt Nam. Cái bản chất tôn giáo của chính quyền Diệm và những vấn đề chính quyền đó tạo ra đã được ghi nhận bởi Graham Greene, một tín đồ Ca Tô, trong một bài viết từ Saigon, in trong tờ London Sunday Times ngày 24 tháng 4, 1955:

“Một cuộc viếng thăm không thích hợp của Hồng y Spellman đã được tiếp nối bởi những cuộc viếng thăm của Hồng y Gillroy và Tổng Giám mục ở Canberra. Những số tiền lớn lao đã được dùng để tổ chức những cuộc biểu tình đón tiếp những vị khách này, đưa ra một ấn tượng là giáo hội Ca Tô là của Tây phương và là đồng minh của Mỹ trong cuộc chiến tranh lạnh.

...Nam Việt Nam, thay vì đối đầu với chế độ toàn trị của miền Bắc bằng những bằng chứng về tự do, lại rơi vào một chế độ độc tài bất hiệu lực: dẹp bỏ báo chí, kiểm duyệt chặt chẽ, lưu đầy bằng lệnh của chính quyền thay vì phải được xét xử ở tòa án. Thật là bất hạnh khi một chính quyền như vậy lại đồng nhất hóa với một đức tin. Ông Diệm rất có thể đã để lại trên đất nước có tinh thần khoan nhượng này một di sản chống-CaTô.”

(Spellman's Vietnam stance was in accordance with the wishes of the Pope. Malachi Martin, a former Jesuit who worked at the Vatican during the years of the escalating US committment to VN, said the Pope wanted the US to back Diem because the Pope had been influenced by Diem's brother, Archbishop Thuc.

"The Pope was concerned about Communism making more gains at the expense of the Church," Martin averred. "He turned to Spellman to encourage American committment to Vietnam."

Thus Spellman embarked on a carefully orchestrated campaign to pop up the Diem regime. Through the press and a Washington lobby, the problem of confronting anti-Communism in Indochina became widely known in America.

Spellman and Kennedy also helped form a pro-Diem lobby in Washington. The rallying cries were anti_Communism and Catholicism.

...To a large extent, many Americans came to believe that Vietnam was a preponderantly Catholic Nation. This misimpression resulted partly from Diem's emergence as ruler. With the help of CIA-rigged election in 1955, Diem abolished the monarchy and Bao Dai was forced to live in exile. The heavily Catholic hue to the Vietnam lobby also accounted for much of the widespread belief. Still another factor was Spellman's identification with the cause.

...Spellman's propagandizing of the Catholic nature of Diem's regime reinforced a negative image of the Church's position in Vietnam. The sectarian nature of Diem's government and the problems of that government were noted by the writer Graham Greene, himself a Catholic, in a dispatch from Saigon printed in the London Sunday Times on April 24, 1955:

An unfortunate visit by Cardinal Spellman has been followed by those of Cardinal Gillroy and the Archbishop of Canberra. Great sums are spent on organizing demonstrations for the visitors, and an impression is given that the Catholic Church is occidental and an ally of the US in the cold war.

...The South, instead of confronting the totalitarian North with the evidence of freedom, has slipped into an inefficient dictatorship: newspapers suppressed, strict censorship, men exiled by administrative order and not by judgement of the courts. It is unfortunate that a government of this kind should be identified with one faith. Mr. Diem may well leave his tolerant country a legacy of anti-Catholicism.)

18. “The Final Superstition” by Joseph L. Daleiden, Prometheus Books, New York, 1994, p. 62):

"Spelllman là người chủ chốt của giáo hoàng làm cho Mỹ tham chiến sâu đậm ở Việt Nam. Theo một bức thư chính thức của Vatican, giáo hoàng "dùng Spellman để khuyến khích Mỹ tham chiến ở Việt Nam."

Mọi viện trợ nhân đạo cho miền Nam đều đi qua các cơ sở của giáo hội Công Giáo và chỉ có những người Công Giáo là được Diệm bổ nhiệm vào trong chính phủ. Tuy rằng những chính sách như vậy đưa đến việc cải đạo hàng loạt, số tín đồ Công Giáo chỉ chiếm vào khoảng từ 12 tới 13 phần trăm của dân số miền Nam. Không lạ lùng gì mà khối đa số Phật Giáo bất bình đưa đến việc công khai chống đối chính sách của Diệm. Tình trạng ngày càng suy kém, Diệm đã dùng đến biện pháp bắt giữ hàng loạt, đàn áp Phật tử, đóng cửa chùa chiền và tu viện. Qua kinh nghiệm quá khứ, Giáo hội chắc hẳn đã biết rằng sự đàn áp chỉ làm cho lý tưởng mạnh hơn. Trước sự quan sát kinh hoàng của thế giới, giới Phật tử đã phải dùng tới hành động chống đối tiêu cực rốt ráo và nhiều tăng sĩ đã tự thiêu. Trong những khoảng thời gian đáng sợ đó, tôi, một tín đồ Công Giáo, không nhớ có một lời chỉ trích chính sách của Diệm từ một linh mục hay giám mục Công Giáo nào. Tuy nhiên, sự việc đã lên quá mức đối với Tổng Thống John Kennedy, ông ta thôi không ủng hộ Diệm nữa. Ít lâu sau đó Diệm bị hành quyết trong một cuộc lật đổ chính quyền. Qua cái diễn tiến kinh khủng này vai trò của giáo hội đã theo đúng cái tiến trình lịch sử nhơ nhớp của giáo hội."

(Spellman was the papal point man to lead America into deeper involvement in Vietnam. According to a Vatican official letter, the pope "turned to Spellman to encourage American commitment to Vietnam."

All US relief to the South was funneled through the Catholic Church's agencies and only Catholics were appointed to government positions by Diem. Although these policies resulted in a wave of conversions, Catholics still made up only about 12 to 13 percent of the South Vietnamese population. Not surprisingly, the resentment among the Buddhist majority soon resulted in their open resistance to Diem's policies. As the situation deteriorated, Diem resorted to mass arrests and suppression of the Buddhists, closing shrines and monateries. As the Church should have known from its own early experience, persecution can only strengthen a cause. As a horrified world watched, the Buddhists resorted to the ultimate act of passive resistance and several monks set themselves ablaze. During these terrible times, when I, too, was a Catholic, I don't recall one word of criticism of Diem's policies from a Catholic priest or bishop. However, it finally became too much for President John Kennedy, who withdrew US support for Diem. Diem was soon executed in a coup. Throughout this dreadful ordeal the role of the Church followed true to the course of its sordid history.)

19. "America's Longest War" by George C. Herring, John Wiley & Sons, New York 1979, pp. 62-65:

“Để làm vui lòng các cố vấn Mỹ, thỉnh thoảng Diệm cũng nói trên đầu môi chót lưỡi về dân chủ, nhưng trong thực hành hắn nắm lấy những quyền lực tuyệt đối. Đích thân hắn ngự trị ngành hành pháp của chính phủ, dành cho hắn và anh em hắn mà hắn đã đưa ba người vào nắm ba chức trong nội các có sáu bộ, mọi quyền quyết định.

Sự tấn công dữ dội của Diệm vào những đối lập chính trị đã gây nên sự bất mãn trong các thành phố cũng như ở thôn quê. Báo chí chỉ trích chính phủ bị đóng cửa ngay.. Dùng quyền hành trong các sắc lệnh của tổng thống, chính quyền Diệm đã lùa vào những “ trại cải huấn” nhiều ngàn người Việt Nam, cộng sản cũng như không cộng sản, những người bị coi như là đe dọa cho trật tự công cộng. Chương trình cải huấn lúc đầu nhắm vào các thành phần kháng chiến Việt Minh ở lại miền Nam, nhưng rồi với thời gian chương trình này được áp dụng cho bất cứ ai dám chống đối chính quyền.

...”Chính quyền có khuynh hướng cai trị dân với lòng nghi ngờ và cưỡng bức”, một phúc trình tình báo của Mỹ kết luận năm 1960, và “đã được đáp ứng bởi thái độ bất thiện cảm và bất mãn của người dân”.

(To please his American advisors, Diem occasionally paid lip-service to democracy, but in actual practice he assumed absolute powers. He personally dominated the executive branch of government, reserving to himself and his brothers, three of whom were appointed to a cabinet of six, all power of decision-making.

...Diem's vigorous assault against political opponents spawned rising discontent in the cities as well as the countryside. Newspapers which criticized the government were promptly shut down...Using authority handed down in various presidential ordinances, the government herded into "reeducation centers" thousands of Vietnamese, Communists and non-Communists alike, who were alleged to be threats to public order. The reeducation program was originally aimed at the Viet Minh "stay-behinds," but in time it was extended to anyone who dared speak out against the government.

...The government "has tended to threat the population with suspicion or coerce it," an American intelligence report concluded in 1960, "and has been rewarded with an attitude of apathy or resentment.”)

20. "Unwinding the Vietnam War: From War Into Peace" by Reese Williams, The Real Comet Press, Seattle 1987, p. 431:



Sau khi Pháp bị đánh bại và có vẻ như nền độc lập (của Việt Nam) sẽ tới, theo hiệp định Genève. Nhưng thay vào đó Mỹ đã nhảy vào, quyết định là Hồ (Chí Minh) không được thống nhất đất nước đang tạm thời chia cắt, và những nông dân lại cảnh giác khi chúng ta ủng hộ một trong những tên độc tài đồi bại nhất của thời hiện đại – Thủ tướng Diệm, người chúng ta chọn. Người nông dân cảnh giác và co rúm người lại khi Diệm tàn nhẫn dẹp mọi đối lập, hỗ trợ những tên địa chủ bóc lột họ, và từ chối thảo luận với Bắc Việt về sự thống nhất của đất nước

(After the French were defeated it looked as if independence would come again through the Geneva Agreements. But instead there came the US, determined that Ho should not unify the temporarily divided nation, and the peasants watched again as we supported one of the most vicious modern dictators - our chosen man, Premier Diem. The peasants watched and cringed as Diem ruthlessly routed out all opposition, supported their extortionist lanlords, and refused even to discuss reunification with the North.)

(From an address delivered by Dr. Martin Luther King in New York City on April 4, 1967).

Trên đây chỉ là 20 lời phê phán điển hình về chế độ Ngô Đình Diệm của một số trí thức ngoại quốc: ký giả, chính trị gia, giáo sư đại học, nhà quân sự, trong số hàng trăm lời phê phán tương tự khác. Chúng ta cũng nên để ý là hơn phân nửa số tài liệu trích dẫn ở trên được viết sau năm 1975. Nếu độc giả muốn đọc những lời phê phán của người Việt, xin tìm đọc cuốn Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi của cố Thiếu Tướng Đỗ Mậu, trong đó ở phần cuối có 100 lời phê phán của các nhân sĩ, chính trị gia, tướng lãnh, giáo sư đại học, nhà báo v..v.. về Ngô Đình Diệm và chế độ Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa. Cho tới ngày nay, cuốn hồi ký chính trị này, với rất nhiều chi tiết lịch sử, vẫn là cuốn sách có giá trị nhất trong những cuốn viết về chế độ Ngô Đình Diệm và những diễn biến chính trị trong thời Đệ Nhất Cộng Hòa..

Từ 20 lời phê phán của các tác giả ngoại quốc trên, chúng ta có thể rút tỉa ra được những gì? Sau đây là vài điểm chính.

1). Ngô Đình Diệm là người vô tài, vô đức, nhu nhược, được Hồng Y Spellman, với sự phụ giúp của ngoại trưởng John Foster Dulles cùng một vài chính khách Công giáo Mỹ khác, theo lệnh của Vatican, vận động với Mỹ đưa Diệm về cầm quyền ở Nam Việt Nam vì Diệm thuộc loại người Công giáo cuồng tín khát máu Tây Ban Nha trong thời Trung Cổ, chống Cộng điên dại nên đương nhiên có thể tin cậy để chống Cộng cho Mỹ và cho Vatican. Ngoài ra Vatican cũng còn góp phần vận động, thuyết phục Mỹ tham chiến ở Việt Nam. Cái tội này của Vatican đối với Việt Nam sẽ được ghi vào sử sách.

2). Chế độ Ngô Đình Diệm là một chế độ bạo ngược, chuyên chế, không có sự hậu thuẫn của quần chúng. Đó là một chế độ mà hầu hết những người nắm quyền hành chánh, quân sự là những gia nô vô liêm sỉ.

3). Chính cái chất Công Giáo cuồng tín, tổng hợp của ngu dốt, kiêu căng, huênh hoang, hợm hĩnh [theo giáo sư Nguyễn Mạnh Quang] của Diệm đã làm hại Diệm. Sách lược Công giáo hóa miền Nam bằng thủ đoạn tiêu diệt các giáo phái khác của Diệm trong một nước mà Công giáo chỉ chiếm có 7% là một sách lược ngu xuẩn, đi ngược lại tinh thần Tam Giáo Đồng Nguyên của dân tộc, đã đưa đến sự oán ghét của tuyệt đại đa số người dân Việt Nam. Sách lược này đã ghi thêm một chương ô nhục vào lịch sử giáo hội Công giáo Việt Nam, một giáo hội vốn đã nổi tiếng là: “Hễ phi dân tộc thì thể nào cũng phản bội dân tộc.”

Kết Luận: Trước sách lược “Công giáo hóa miền Nam” ngu xuẩn, bạo tàn, hại dân, hại nước của chính quyền Ngô Đình Diệm, con cờ giai đoạn của Vatican và Mỹ, Phật Giáo Việt Nam không còn có thể chọn lựa con đường nào khác ngoài con đường tranh đấu, không riêng gì cho Phật Giáo mà còn cho cả dân tộc. Những bằng chứng tràn ngập về tính cách bạo tàn, kỳ thị tôn giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm, đã chứng minh một cách hùng hồn là cuộc tranh đấu của Phật Giáo cách đây 40 năm ở miền Nam Việt Nam là có chính nghĩa, hợp với lòng dân.

Thật vậy, tuy Phật Giáo phát động phong trào chống chế độ Ngô Đình Diệm nhưng lòng dân oán ghét chế độ bạo tàn phi dân chủ này đã âm ỉ từ lâu, như chúng ta đã thấy trong một số tài liệu vừa trích dẫn ở trên. Chúng ta không nên quên là ông Diệm đã bị ám sát hụt tại Ban Mê Thuột ngay từ năm 1957, ngày 21 tháng 5. Rồi đến cuộc đảo chánh thất bại của lực lượng nhảy dù ngày 11 tháng 11, 1960, vụ dội bom dinh độc lập của 2 sĩ quan VNCH ngày 27 tháng 2, 1962. Và sự kiện là, trong cuộc tranh đấu Phật Giáo 1963, không phải chỉ có Phật tử mới tham gia tranh đấu mà gồm đủ mọi thành phần dân tộc, từ các em học sinh trung học đến các sinh viên đại học, các giới sĩ, nông, công, thương, kể cả những người Công giáo tiến bộ gồm một số linh mục và tín đồ Công giáo.

Phật Giáo là tôn giáo hòa bình. Những bậc tôn đức trong cuộc tranh đấu Phật Giáo 1963 không chủ trương lật đổ chính quyền Ngô Đình Diệm bằng bạo động, kể cả Bồ Tát Thích Quảng Đức. Nhưng không ai có thể phủ nhận là cuộc tranh đấu này đã góp phần lớn lao đưa đến sự cáo chung của chế độ Công giáo trị, gia đình trị Ngô Đình Diệm vào ngày 1 tháng 11, 1963. Ý thức được lòng dân, chính quân đội Việt Nam, chỉ huy bởi nhiều tướng lãnh, trước đã theo và ủng hộ ông Diệm, đã đứng lên làm tròn sứ mạng dẹp bỏ một chế độ Công giáo độc tài, phi dân tộc, phi tổ quốc. Như đã từng nhiều lần có công với dân tộc trong nhiệm vụ bảo vệ, giữ nước, cuộc tranh đấu 1963 của Phật Giáo ở miền Nam cũng đã góp được nhiều công to lớn cho dân tộc. Ngoài việc đưa đến sự chấm dứt một chế độ ác ôn đã mất đi lòng dân, chính yếu là cuộc tranh đấu của Phật Giáo đã thành công trong việc bảo vệ được nền văn hóa truyền thống và tôn giáo dân tộc, tôn giáo dân tộc ở đây phải được hiểu theo nghĩa tôn giáo của tuyệt đại đa số người dân trong nước, thí dụ như Ki Tô Giáo ở Mỹ, ngăn chận được hiểm họa của Công giáo trong toan tính đưa toàn dân Việt Nam xuống hàng súc vật (con chiên), cúi đầu tuân phục một định chế có thủ phủ đặt tại Vatican, ngự trị bởi một số người ngoại quốc vô đạo đức tôn giáo như John Paul II và Benedict XVI, mà lịch sử đen tối ô nhục của tôn giáo này đã không còn là một vấn đề xa lạ đối với thế giới ngày nay.



Những bài viết về Ngô Đình Diệm:


Bất đắc dĩ khơi lại đống tro tàn (Lê Nguyên Long)
Họ và Chúng Ta (Nguyễn Mạnh Quang)
Họ và Chúng Ta 1 - Nguyên Nhân Của Tập Sách (Nguyễn Mạnh Quang)
Ngô Đình Diệm - bảy nguyên nhân thất bại (Bùi Kha)
Ngô Đình Diệm Là Ai? (Chính Đạo)
Ngô Đình Diệm Là Ai? - Sơ Lược Tiểu Sử (Chính Đạo)
Tản Mạn Quanh Cuốn "Linh Mục Trần Lục" (Nguyễn Ngọc Quỳ)
VATICAN:CH61- Ngô Đình Diệm Dưới Mắt Các Chính Khách Hoa Kỳ (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH63-1a NGÔ ĐÌNH DIỆM: Con Người và Tội Ác (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH63-1b Sơ Lược Cuộc Đời của NGÔ ĐÌNH DIỆM (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH63-1c Tại Sao Gọi Là Tam Đại Việt Gian (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH63-1f Tình Trạng Ngu Dốt Của Ông Diệm (Nguyễn Mạnh Quang)
VATICAN:CH63-1g Những Việc Làm Tàn Ngược Của Ông Diệm (Nguyễn Mạnh Quang)
Vài Nét Về Cụ Diệm (Trần Chung Ngọc)
Vụ Ám Sát Ngô Đình Diệm Và J.F.Kennedy (Phạm Viêm Phương, Mai Sơn dịch)


Ai Là Ác Nhân Nhất Thế Kỷ 20 ? (Trần Chung Ngọc sưu tầm)
Di Hại Của “Nền Đạo Lý Thiên-La Đắc-Lộ” (Trần Chung Ngọc)
Nguyễn Trường Tộ - Từ Huyền Thoại Đến Thực Chất (Trần Chung Ngọc)
Nhận Định Về DVD "Sự Thật Về Hồ Chí Minh" (Trần Chung Ngọc)
Thư mục để tham khảo (Trần Chung Ngọc)
Vài Nét Về Cụ Diệm (Trần Chung Ngọc)
Vài Nét Về Cụ Hồ -1 (Trần Chung Ngọc)
Vài Nét Về Cụ Hồ -2 (Trần Chung Ngọc)
Xét Lại Huyền Thoại Nguyễn Trường Tộ - Nhân Đọc... (Trần Chung Ngọc)
ĐIỆN BIÊN PHỦ, hay Đâu Là “Sự Thật Lịch Sử” Của Lữ Giang (Trần Chung Ngọc)


lmhuule wrote on Nov 20, '09
VÀI NÉT VỀ “CỤ HỒ”

Trần Chung Ngọc
đăng ngày 17 tháng 5, 2007

Toàn phần: 1 2

Mời xem Youtube về Cụ Hồ

PHẦN 1

Viết về một nhân vật có tầm vóc quốc tế như Hồ Chí Minh có thể nói là không dễ. Đối với những người thuộc giới Chống Cộng Cực Đoan [CCCĐ] hay Chống Cộng Cho Chúa [CCCC], viết theo cảm tính thù hận Quốc Gia chống Cộng, hay Công Giáo chống Cộng, trong khi thực sự không hiểu, không biết gì về Hồ Chí Minh thì rất dễ, vì muốn viết sao cũng được. Đưa ra những chi tiết lặt vặt, cộng với xuyên tạc, dựng đứng v..v.. nhằm “ám sát tư cách cá nhân” (character assassination), bằng những từ tục tĩu, hạ cấp v..v.. cho hả lòng thù hận, thì có lẽ ai viết cũng được, không cần đến trí tuệ, không cần đến kiến thức, không cần đến trình độ, và không cần đến liêm sỉ. Thảm thay, hiện tượng này chúng ta thường thấy xảy ra trong vài khu rừng diễn đàn truyền thông hải ngoại, nơi đây một thiểu số người Việt có vẻ như không có mấy trình độ văn hóa, giáo dục thường lên tiếng. Nhưng viết cho đúng với nhân cách, khả năng, tư tưởng và con người của Hồ Chí Minh thì quả thật là khó, vì điều này đòi hỏi trước hết là một sự lương thiện trí thức, một sự hiểu biết đứng đắn về cuộc đời của ông Hồ, và nhất là, về ông đã làm gì cho đất nước Việt Nam.

Riêng đối với tôi, viết về ông Hồ lại càng khó hơn, vì xuất thân từ Trường Sĩ Quan Trừ Bị Nam Định, đã cầm súng chống Cộng trong thời gian 8 năm rưỡi, khoảng thời gian tôi ở trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, đã đi Mỹ học, và đã về phục vụ trong ngành giáo dục ở miền Nam cho đến ngày chót, đương nhiên tôi đã ở phía Quốc Gia rồi. Nhưng cuộc chiến Quốc – Cộng đã chấm dứt hơn 30 năm rồi, bây giờ còn nói đến chuyện Quốc – Cộng có phải là ngớ ngẩn không? Thời gian chỉ trôi có một chiều, một thế hệ già nua như chúng tôi đang lần lượt rủ nhau đi vào dĩ vãng để nhường chỗ cho một thế hệ trẻ hơn, đầy nhiệt huyết, với những kiến thức thời đại, biết thế nào là con đường quốc gia, dân tộc, và dứt khoát từ chối, không để cho đầu óc bị ô nhiễm bởi những thù hận của lớp trước, dù các bậc cha anh vô trí có muốn truyền lại. Với tâm cảnh như trên, vậy tôi phải viết về ông Hồ ra sao? Viết theo sự hiểu biết giới hạn của mình thì rất có thể “sai đường lối của một số người đang tham gia cuộc “thánh chiến chống Cộng”” và phải đội thêm vài cái nón cối nữa. Nhưng chẳng sao, tôi ở xứ lạnh, mùa Đông sắp đến, càng ấm đầu.

Được đào tạo trong ngành Khoa Học Vật Lý, đối với tôi, sự lương thiện trí thức phải để lên hàng đầu, và phương pháp khảo cứu mọi vấn đề phải cẩn trọng, không để cho tình cảm thiên kiến lôi cuốn, tuy tôi tự biết, vì không có cái mặc cảm của Thượng đế (God complex), nên tôi không thể tránh khỏi có đôi chút thiên kiến khi viết về lịch sử. Một người nào đó đã chẳng từng nói: “Người nào viết sử mà không có đôi chút thiên kiến chắc phải có cái mặc cảm mình là Thượng đế (hay mặc cảm của Thượng đế) [Those who write about history without bias must have a God complex]. Để giảm thiểu thiên kiến, phương pháp khảo cứu của tôi là đọc nhiều sách về cùng một vấn đề, rồi từ đó kiếm ra một mẫu số chung. Điều này chưa hẳn là tuyệt đối đúng, nhưng ít ra cũng không xa sự thực là bao nhiêu.

Riêng về ông Hồ, đọc những tài liệu của giới CCCĐ hay CCCC ở hải ngoại thì cũng như không đọc, vì không biết thêm được điều gì mới lạ, ngoài những cường điệu chứng tỏ trình độ thấp kém về lịch sử của người viết. Còn dùng những tài liệu trong nước, phải gội đầu sẵn để đội thêm vài cái mũ của những kẻ không hề biết lý luận, không có khả năng thảo luận trí thức. Không phải là trong những tài liệu thuộc cả hai phe “Quốc-Cộng” này không có những chi tiết đúng, nhưng những chi tiết này chúng ta cũng có thể tìm thấy trong kho tàng tài liệu ngày nay trên thế giới, từ tác phẩm của những nhà nghiên cứu trong môi trường đại học, các chính khách, cựu tướng lãnh v..v…, và từ các tài liệu có trong các văn khố của một số quốc gia. Vậy thì tốt hơn hết là đi tìm tài liệu không thuộc hai phe Quốc, Cộng.

Bài viết này không có mục đích viết tất cả về ông Hồ Chí Minh, tôi không có khả năng như vậy. Nhân đọc loạt bài ông Minh Võ phê bình cuốn “Ho Chi Minh, A Life” của William J. Duiker cùng đọc bài khảo cứu, có thể nói là một bài giáo khoa của giáo sư Sử học Nguyễn Mạnh Quang, về những vị lãnh đạo Việt Nam trong thời cận đại như Hồ Chí Minh, Bảo Đại, Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu, đăng trên giaodiemonline.com tháng 11, 2006, tôi chỉ muốn bổ túc và thu hẹp trên một vài khía cạnh về ông Hồ Chí Minh: vị thế của ông Hồ Chí Minh trên chính trường quốc tế, trong lòng dân tộc Việt Nam, và nhất là, phải chăng ông là người Cộng sản cực đoan, tay sai của Nga Sô và Trung Cộng như một số người chống Cộng cực đoan ở hải ngoại, điển hình là ông Minh Võ, thường rêu rao.

Còn những con cờ Bảo Đại, Ngô Đình Diệm, và Nguyễn Văn Thiệu của Pháp và Mỹ thì có lẽ không cần phải nhắc tới. Giáo sư Nguyễn Mạnh Quang đã viết quá đủ về những nhân vật này rồi, nhất là về ông “Phán Quan Tây Ban Nha” Ngô Đình Diệm.(Link:

http://www.giaodiemonline.com/nov/chuong18.htm )

Trước khi đi vào những vấn đề này, tôi có một nhận xét tổng quát về những luận điệu xuyên tạc, đả kích ông Hồ Chí Minh của một số người có vẻ như không có mấy trình độ. Không có gì ngu xuẩn hơn là so sánh ông Hồ với Hitler. Những người này hầu như không hề biết gì đến dư luận thế giới, nhất là trong các nước tiến bộ Âu Mỹ, đã nhận định về ông Hồ Chí Minh như thế nào. Hãy vào Internet đánh tên Ho Chi Minh thì sẽ thấy Thế giới đánh giá Hồ Chí Minh như thế nào. Hay hãy đọc những cuốn sách về chiến tranh Việt Nam của các học giả, tướng lãnh Mỹ, và ngay cả hai cuốn In Retrospect và Argument Without End của cựu Bộ Trưởng Quốc Phòng Robert McNamara. Phần nhận định tích cực về Hồ Chí Minh tràn ngập so với phần tiêu cực thưa thớt của một số người Việt hải ngoại mà tên tuổi không đáng kể, và chỉ như những con đom đóm lập lòe trên vài diễn đàn điện tử ít có giá trị trí thức của đám người Việt còn mang nặng lòng hận thù Quốc-Cộng, chống Cộng cuối mùa, chống Cộng khi đã không còn Cộng..

Và những người muốn hạ bệ Hồ Chí Minh để vinh danh “chí sĩ” Ngô Đình Diệm của họ nhân dịp 1/11 thì hãy kiếm đọc cuốn “Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử” (Tyrants, History’s 100 Most Evil Despots and Dictators) của Nigel Cawthorne, Barnes & Noble, NY, 2004, trong đó chúng ta có thể thấy những tên quen thuộc như Tần Thủy Hoàng, Võ Hậu, Từ Hi, Richard III, Mary I, Ceasar Borgia v..v.. và trong thời cận đại: Hitler, Mao Trạch Đông, Stalin, Pol Pot, Sadam Hussein, Kim Jung II, và, lạ lùng thay, có cả tên Ngô Đình Diệm (President of South Vietnam) mà lại không có tên Hồ Chí Minh trong danh sách này. Mỗi tên trong danh sách đều có kèm theo một tiểu sử ngắn và sơ lược những hành động chuyên quyền và độc tài của nhân vật đó. Thế này là thế nào, chẳng có lẽ Nigel Cawthorne cũng như nhiều trí thức Tây phương đều là tay sai của CSVN, hay là những người ngu cả hay sao?

Cách đây sáu năm, năm 2000, sử gia William J. Duiker có xuất bản cuốn “Ho Chi Minh, A Life”. Cuốn này được giới trí thức, học giả Âu Mỹ đánh giá khá cao và cho rằng đó là một cuốn nghiên cứu sâu rộng nhất về con người và sự nghiệp của ông Hồ Chí Minh. Đọc Duiker và phối kiểm với những đoạn viết về ông Hồ của nhiều tác giả khác trong thế giới Tây phương, chúng ta có thể rút tỉa ra những điều không xa với sự thật là bao nhiêu.

Trước hết, quốc tế đối với ông Hồ ra sao? Tôi xin được nhắc lại một đoạn trong bài của Giáo sư Nguyễn Mạnh Quang mà giáo sư đã trích dẫn từ cuốn “Ho Chi Minh” của William J. Duiker:

“Khi tin tức về cái chết của ông Hồ Chí Minh được loan truyền thì khắp địa cầu đưa ra nhận xét về ông. Hà Nội nhận được tới hơn hai mươi hai ngàn (22000) bức điện tín từ các thủ đô lớn của 121 quốc gia trên thế giới để bày tỏ lời ca ngợi ông và chia buồn với nhân dân Việt Nam. Một số các nước theo chủ nghĩa xã hội tổ chức buổi lễ truy điệu ông và đưa ra những lời ca tụng ông. Thủ đô Mạc Tư Khoa chính thức ca tụng ông như là “người con vĩ đại của dân tộc anh hùng Việt Nam, một người lãnh đạo xuất sắc của phong trào giải phóng dân tộc và cộng sản quốc tế, và là người bạn vĩ đại của Liên Bang Sô Viết.” Các nước trong Thế Giới Thứ Ba (các nước trung lập) cũng nhận xét về ông với những lời ca tụng ông như là một người bảo vệ những người bị áp bức. Một bài báo phát hành ở Ấn Độ mô tả ông như là tinh túy của “dân tộc và là hiện thân của lòng khát vọng tự do, của sự tranh đấu bền bỉ.” Những bài báo khác đề cao đức tính giản dị và thẳng thắn của ông. Một bài xã luận trong một tờ báo ở Uruguay (Nam Mỹ) ghi nhận “Ông có một tấm lòng bao la như vũ trụ và có một tình thương vô bờ bến đối vào các trẻ em. Ông là gương mẫu về đức tính giản dị và thẳng thắn trong tất cả mọi phạm vi.”

Phản ứng từ các thủ đô Tây Phương thì không biểu lộ mạnh mẽ. Tòa Bạch Ốc lặng thinh và các viên chức cao cấp trong chính quyền của Tổng Thống Nixon cũng không bình luận gì cả. Nhưng việc chú ý đến cái chết cúa ông Hồ Chí Minh đối với giới truyền thông trong các nước Tây Phương thật là mãnh liệt. Những tờ báo ủng hộ các phong trào phản chiến có khuynh hướng mô tả ông bằng những lời lẽ ca tụng ông như là một địch thủ xứng đáng và là một người bảo vệ những kẻ yếu, những người lép vế thế cô và những người bị áp bức. Ngay cả những người vẫn thường khăng khăng chống lại chế độ Hà Nội cũng đánh giá ông bằng những lời lẽ kính trọng ông như là một người đã tận hiến cả cuộc đời cho đại cuộc chiến đấu giành độc lập và thống nhất đất nước cho tổ quốc ông, coi ông như là người phát ngôn xuất chúng cho các dân tộc bị bóc lột ở trên thế giới.”

Nguyên văn: (“The news of Ho Chi Minh’ s death was greeted with a outpouring of comment from around the globe. Eulogies flowed in from major world capitals, and Hanoi received more than twenty-two thousand messages from 121 countries offering the Vietnamese people condolences for the death of their leader. A number of socialists states held memorial services of their own and editorial comment were predictable favorable. An official statement from Moscow lauded Ho as a “great son of the heroic Vietnamse people, the outstanding leader of the international Communist and national liberation movement, and a great friend of the Soviet Union.” From the Third World countries came praise for his role as a defender of the oppressed. An article published in India described him as the essence of “the people, the embodiment of the ardent aspiration for freedom, of their endurance and struggle.” Others referred to his simplicity of manner and high moral standing. Remarked an editorial in Uruguayan newspaper: “He had a heart as immense as the universe and in a boundless love for the children. He is a model of simplicity in all fields.”

Reaction from Western capitals was more muted. The White House refrained from comment, and senior Nixon administration officials followed suite. But attention to Ho’s death in the Western news media was intense. Newspapers that supported the antiwar cause tended to describe him in favorable terms as a worthy adversary and a defender of the weak and oppressed. Even those who had admandtly opposed the Hanoi regime accorded him a measure of respect as one who had dedicated himself first and foremost to the independence and unification of his country, as well as a prominent spokeperson for the exploited peoples of the world.”) [Đây là đoạn đầu của Chương cuối: “Epilogue: From Man To Myth” , trang 562. TCN]

Trên đây, Duiker đã viết lại một sự kiện. Sự kiện này, hơn gì hết, đã loại bỏ tất cả những gì mà một số người Việt hải ngoại hay ở trong nước viết tiêu cực theo cảm tính về ông Hồ. Cho nên bất kể những luận điệu nhằm hạ uy tín của ông Hồ đều không thể thuyết phục được ai, ít nhất là trong giới hiểu biết, nhất là những luận điệu này lại thuộc loại hạ cấp, đầy hận thù, vụn vặt, chỉ nhắm vào những tiểu tiết mà không nhìn thấy những mặt to lớn của sự việc, và chỉ có thể lấy được sự đồng tình của một số người nhỏ nhoi thu hẹp trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại..

Có một bài viết về ông Hồ Chí Minh của Wilfred Burchett khá hay: Ho Chi Minh: An Appreciation (pipeline.com). Wilfred Burchett là một ký giả Úc nổi tiếng, đã từng được Ngoại Trưởng Henri Kissinger nhờ làm trung gian liên lạc giữa Mỹ và Hà Nội. Năm 1968, ông đã viết một cuốn có tính cách tiên đoán: “Việt Nam Sẽ Thắng” (Vietnam Will Win) và năm 1977 ông xuất bản cuốn “Châu Chấu Và Voi: Tại Sao [Nam] Việt Nam Sụp Đổ” (Grasshoppers and Elephants: Why Vietnam Fell). Theo tôi, Burchett viết hay, không phải vì tác giả ca tụng ông Hồ, mà tác giả đã viết về những gì đã tạo nên ông Hồ: Không phải thuần túy chỉ là Marx, là Lenin hay Mao Trạch Đông, mà chính là lịch sử 2000 năm chống ngoại xâm của Việt Nam đã tạo nên ông Hồ. Có thể nói, tác giả hiểu Việt Nam hơn rất nhiều người tự cho mình là trí thức. Chúng ta hãy đọc vài đoạn trong bài của Burchett:

“Chính sách của Mỹ là làm cho người Việt Nam cảm thấy mình thuộc một sắc dân thấp kém (racial inferiors), không có quyền về căn cước quốc gia (have no right for national identity). Họ thường bị gọi là “gooks”, “slopes” và “dinks”, và trên những phúc trình chính thức, làng Mỹ Lai trở thành “Thành phố hồng” (Pinkville) [có nghĩa là thành phố CS] và dân làng bị tàn sát chỉ là “những người Á đông” (oriental human beings). [với ý coi thường, miệt thị]

Sự thực là người nông dân Việt Nam nghèo khó nhất, ngay cả thất học, về phương diện văn hóa và đạo đức thường cũng cao hơn người Mỹ (Reality is that the humblest Vietnamese peasant, even illiterate, is usually culturally and morally superior to his American adversary.). Hắn ta biết nhiều hơn về lịch sử đất nước của hắn – không chỉ vì đất nước hắn có vài ngàn năm lịch sử nhiều hơn Mỹ để mà biết đến – mà vì những điều này đã thấm vào trong người hắn từ sữa mẹ (literally absorbs it with his mother’s milk). Ngay từ bé, hắn sống lên trong một môi trường tràn ngập với những câu chuyện về gia tài lịch sử, hoặc được kể ngay khi còn nằm trong lòng mẹ, hoặc qua những màn kịch diễn lại những trang sử oai hùng của 2000 năm lịch sử chống ngoại xâm của những gánh hát di động, hoặc những truyền thuyết về các “thần hoàng làng”, [thường là các anh hùng giúp nước của xóm làng, được nhà Vua sắc phong], hoặc là những câu chuyện về tổ tiên đã bảo vệ non sông như thế nào, hoặc là những chuyện đau khổ của người dân bị đàn áp bởi ngoại nhân nên đòi hỏi một sự đứng lên để chống đối v..v… Sự hiểu biết về 2000 năm tranh đấu chống kẻ xâm lăng có đầy trong dòng máu của người nông dân chân lấm tay bùn nghèo khó nhất. Chỉ một điều này cũng là một nguồn dũng cảm và sức chịu đựng vô tận, một sự tin tưởng vào tương lai và coi thường những kẻ toan tính phá vỡ những đức tính mà những chuyên viên trong cái “hồ tư duy” (think tank) [của Mỹ] không thể hiểu được (The knowledge of two thousand years' struggle against invaders is in the bloodstream of the humblest, mud-stained peasant. This alone is an inexhaustible source of courage and stoicism; of confidence in the future and contempt for those who try to wreck the present-qualities incomprehensible to the "think tank" specialists.).

Ông Hồ Chí Minh là mẫu mực thu nhỏ của tất cả những điều trên. Và đúng là, cũng như một cái gì đó trong mỗi người Việt Nam đều có trong Hồ Chí Minh, một cái gì đó trong Hồ Chí Minh đều có trong hầu hết những người Việt Nam ngày nay, dấu ấn của ông trên dân tộc Việt Nam thật là sâu đậm (Ho Chi Minh epitomizes all this. And just as there was something of every Vietnamese in Ho Chi Minh so there is something of Ho Chi Minh in almost every present-day Vietnamese, so strong is his imprint on the Vietnamese nation.) .

Một vấn đề mà Tổng thống Nixon cũng như các vị tiền nhiệm có thể không lưu ý đến nhưng chắc chắn là dân Việt Nam không thể không biết, đó là Hồ Chí Minh là của toàn thể quốc gia Việt Nam (that Ho Chi Minh belongs to the whole Vietnamese nation.) Không có một lằn danh giới nào ở vĩ tuyến 17 có thể làm cho người dân miền Nam xa lìa Hồ Chí Minh dù rằng thủ đô được đặt ở miền Bắc. Hồ Chí Minh đã được chấp nhận là lãnh tụ và là nguồn cảm hứng cho mọi người Việt Nam – trừ số người đã lần lượt phục vụ những quan thầy Nhật, Pháp, rồi Mỹ. (No line arbitrarily drawn along the 17th parallel could divorce the people of the South from Ho Chi Minh because his capital happened to be on the northern side of the line. Ho Chi Minh was the accepted leader and source of inspiration for all Vietnamese - except the handful who served Japanese, French and American masters in turn.)

Lẽ dĩ nhiên, một số người Việt “Quốc Gia” ở hải ngoại không thể đồng ý với nhận định trên, điều này có lẽ cũng không lấy gì làm khó hiểu. Nhưng trên phương diện nghiên cứu trí thức, một câu hỏi cần được đặt ra: có bao nhiêu phần đúng trong nhận định của Burchett? Nếu chúng ta thuộc lịch sử Việt Nam, nếu chúng ta biết đến những truyền thống trong xã hội làng mạc Việt Nam, nếu chúng ta để tâm nghiên cứu về hai cuộc chiến ở Việt Nam, với Pháp rồi với Mỹ, thì có lẽ chúng ta không cần đặt ra câu hỏi trên.

Vấn đề tiếp theo tôi muốn nói đến là: ông Hồ Chí Minh là con người Cộng Sản như thế nào? Chúng ta biết rằng, ông Hồ Chí Minh chưa bao giờ phủ nhận mình là người Cộng Sản và đã từng khẳng định là Lenin đã gây cảm hứng cho ông trong công cuộc giành lại độc lập cho đất nước. Nhưng muốn hiểu ông Hồ là người Cộng sản như thế nào, có lẽ chúng ta nên biết đến quan niệm của một số trí thức ngoại quốc, những người thường ở trong môi trường đại học, đặt sự tôn trọng sự lương thiện trí thức lên hàng đầu, và vì chính uy tín của họ, nên không thể viết theo cảm tính mà không nghiên cứu kỹ vấn đề, hay tự hạ mình rơi vào vòng tranh chấp Quốc-Cộng mà họ không thuộc phe nào và không có lý do gì để ủng hộ hay chống đối một phe nào..

Chúng ta hãy đọc vài đoạn trong bài của Stanley I. Kutler điểm cuốn “Ho Chi Minh, A Life”, Kutler là tác giả cuốn "The Wars of Watergate" và là chủ biên của "The Encyclopedia of the Vietnam War." . Stanley Kutler cho rằng trong tác phẩm của mình, Duiker đã viết về một nhà cách mạng ái quốc gần với Thomas Jefferson hơn là với V. I. Lenin [A patriot closer to Thomas Jefferson than to V.I. Lenin]. (Điều này, không phải chỉ có mình Duiker mới nhận định như trên, mà một số tác giả Mỹ khác cũng có cùng một nhận định như vậy. TCN)

Trước hết, Kutler cho rằng chế độ thực dân đã cáo chung một thế kỷ nay rồi và vai trò của ông Hồ đã đi vào quá khứ. Ngày nay, Việt Nam là một phần của nền kinh tế toàn cầu, có nghĩa là có những liên doanh mang lại lợi nhuận cho chính phủ, cho một số viên chức được ưu đãi, và cho những công ty Tây phương. Nhưng Kutler ghi nhận là:

“Tuy nhiên, thế giới có một bộ mặt khác vì ông Hồ, và những người như ông, những người đã lo lắng, chiến đấu và hi sinh để giải phóng quốc gia của họ thoát khỏi sự sỉ nhục và gông cùm của sự chuyên chế bạo ngược ngoại quốc.” (Nevertheless, the world is a different place because of Ho, and others like him, who agitated, fought and died to liberate their lands from the stigma and yoke of foreign tyranny.)

Sau đó Kutler viết: “Duiker đã đi quá sự tranh luận đơn giản trong thời Chiến Tranh Lạnh về vấn đề ông Hồ là người Cộng sản theo chính thống Mác-Lênin hay là một nhà ái quốc quốc gia, hiến thân cho cuộc giải phóng và thống nhất đất nước?” (Duiker has moved beyond the simplistic Cold War debate of whether Ho was a dedicated Communist, beholden to Marxist-Leninist orthodoxy, or whether he was a patriot and a nationalist, dedicated to freeing and uniting his country.) “Duiker đã nhận định đúng, Hồ Chí Minh có căn rễ sâu đậm trong phong trào Cộng sản quốc tế, nhưng ông luôn luôn là một người quốc gia đã mang lại sự lãnh đạo, viễn kiến và sự cương quyết hiến thân cho nguyên lý dân tộc tự quyết “ (Duiker rightly notes that Ho had deep roots in the international Communist movement; but he was a constant nationalist who provided leadership, vision and a firm commitment to the principle of self-determination.)…

“Ông Hồ không hề nao núng khi dùng chủ nghĩa Cộng Sản cho những mục đích quốc gia. Lời tuyên bố của ông: “các dân ở Đông Dương vẫn sống và sẽ còn sống mãi” khó mà phù hợp với chủ nghĩa Mác. Duiker nhấn mạnh là, đối với ông Hồ, độc lập quốc gia bao giờ cũng là mục tiêu chủ yếu, trong khi chủ thuyết về một cộng sản không tưởng vẫn là một vấn đề mơ hồ, bất định cho tương lai” [Ho unabashedly used communism for his own nationalist ends. His statement that "the peoples of Indochina still live and will live forever" is hardly compatible with Marxism. Duiker insists that for Ho, national independence always was the primary goal, while the doctrine of a communist utopia remained a vague, indefinite matter for the future.] Duiker cũng nhắc lại cho chúng ta là rất tiếc vì những nhận định hời hợt về cuộc Chiến Tranh Lạnh mà Paris và rồi Washington đã thất bại không nắm lấy tay ông Hồ, để đưa đến những hậu quả sâu đậm cho người Việt Nam và cho thế giới (Duiker painfully reminds us that external Cold War considerations led to the failure of Paris and then Washington to grasp Ho's hand, resulting in profound consequences for the Vietnamese people and the world.)

Lẽ dĩ nhiên, cuốn “Ho Chi Minh, A Life” của Duiker không làm những người mang nặng lòng hận thù Cộng Sản hài lòng, và họ đã lên tiếng chê sử gia Duiker cũng như tất cả các tác giả Âu Mỹ viết về ông Hồ mà không đúng ý họ là ngu dốt, là những người ngoại quốc, đâu có biết gì về ông Hồ bằng người Việt Nam. Chỉ có những người vô tên tuổi, vô văn hóa, và chẳng biết gì mấy về Việt Nam như họ mới có thể biết rõ về ông Hồ, dù rất có thể họ chưa bao giờ thấy mặt ông Hồ, và chỉ biết ông Hồ qua những luận điệu tuyên truyền chống Cộng ở hải ngoại và qua vài chi tiết lặt vặt trong những tác phẩm của những người sau này chống Đảng như Vũ Thư Hiên, Bùi Ngọc Tấn, Bùi Tín, Nguyễn Minh Cần v..v.... Điển hình cho loại người này trên Internet là Minh Võ, một người rất năng nổ trong chiến dịch “No Hồ” ở hải ngoại, viết trên diễn đàn điện tử Đàn Chim Việt, một diễn đàn có vẻ như là nơi để cho một số người nhân danh tự do ngôn luận vào đó chửi lộn. Minh Võ đang cố gắng phá đổ cái mà ông ta gọi là “thần tượng Hồ Chí Minh”, dù rằng chẳng có ai coi ông Hồ là thần tượng, vì hầu như mọi người dân trong nước đều coi ông Hồ đơn giản là “Bác Hồ”. Nhưng trình độ hiểu biết, khả năng lý luận, và thủ đoạn bịa đặt sự kiện của ông Minh Võ không cho phép ông ta đạt được mục đích, cho nên những điều ông ta phê bình Duiker cũng như những điều ông ấy viết về ông Hồ không có mấy giá trị trí thức, để lộ rõ một kiến thức kém cỏi và viết với một tâm trạng thù hận và thiếu sự lương thiện trí thức trong đó. Điều này chúng ta có thể chứng minh rất dễ dàng, nhưng tôi để cho phần sau.

Trước hết chúng ta hãy đọc thêm vài tài liệu về ông Hồ:

Trong tờ “Les Collections de L’Histoire”, số 23, Avril-Juin 2004, một tuyển tập về “Indochine Vietnam: Colonisation, Guerres et Communisme” có bài “Con Người Trở Thành Hồ Chí Minh” [L’Homme Qui Devint Ho Chi Minh] của Pierre Brocheux, Giáo sư Diễn Giảng Danh Dự tại Đại Học Denis-Diderot, Paris-VII. Chúng ta sẽ thấy trong đó có vài chi tiết chứng tỏ ngay cả Nga và Tàu cũng không tin tưởng ông Hồ Chí Minh là người Cộng Sản chính thống (orthodox communist). Giáo sư Brocheux viết, trang 33:

Đối với Quốc (Nguyễn Ái Quốc), chủ thuyết Mác Lênin đã đưa lên những phương tiện hành động, như là ông ta đã giảng giải nhiều năm sau: “Chúng ta phải hiểu rằng giật độc lập ra khỏi tay một cường quốc như Pháp là một nhiệm vụ rất khó khăn mà người ta không thể hoàn thành mà không có một sự ngoại viện, không cần thiết phải là một sự viện trợ vũ khí mà dưới dạng cố vấn và tiếp xúc. Chúng ta không lấy lại được độc lập bằng cách ném bom hay bằng những hành động tương tự. Đó là sự sai lầm của những nhà cách mạng lúc đầu đã phạm phải [Có lẽ ông Hồ muốn nói đến cuộc ám sát thất bại của Phạm Hồng Thái đối với Toàn Quyền Merlin]. Chúng ta lấy lại độc lập bằng sự tổ chức và tự khép mình vào kỷ luật. Chúng ta cũng còn cần đến một lòng tin, một phúc âm, một sự phân tích thực tiễn, có thể nói đến như là một thánh kinh. Chủ thuyết Mác-Lênin đã cung cấp cho tôi đường lối hành động này.”

(Pour Quoc, le marxisme-léninisme offre des moyens d’action, comme il l’a expliqué des années plus tard: “Vous devez comprendre qu’arracher l’indépendance à une puissance comme la France est une tâche formidable qu’on ne peut accomplir sans une aide extérieure et pas nécessairement une aide en armes mais sous la forme de conseils et de contacts. On ne gagne pas l’indépendance en jetant des bombes et par des actes de ce type. Ce fut l’erreur que les premiers révolutinaires commirent. On gagne l’indépendance en s’organisant et en se diciplinant. On a aussi besoin d’une foi, d’un évangile, d’une analyse pratique, on peut même parler d’une bible. Le marxisme-léninisme m’a fourni cette panoplie.)

Thực ra thì có lẽ ông Hồ muốn nói đến Những Luận Đề Về Những Vấn Đề Quốc Gia Và Thuộc Địa (Theses on The National and The Colonial Questions) của Lê-nin đưa lên trong Đại Hội II Cộng Sản Quốc Tế (Second Congress of the Communist International) vào năm 1920 để nghị thảo mà ông biết đến trong Đệ Tam Quốc tế. Chúng ta đã biết, chính ông Hồ Chí Minh đã thành thực công nhận là mới đầu ông không hiểu hết những từ và ý tưởng chính trị khó khăn trong bản văn trên, nhưng rồi đọc đi đọc lại ông mới thấm và hiểu rõ, và ý thức được là những luận đề này đã giúp cho ông ta thấy con đường thích hợp nhất để cứu nước, giải phóng dân tộc khỏi ách thuộc địa, thực dân. Và ông Hồ đã thành công.

Chúng ta hãy đọc tiếp vài đoạn khác của Giáo sư Brocheux. Trước hết là một tài liệu trích dẫn từ một tài liệu trong văn khố của Nga Sô, mới được sử gia Alain Ruscio phổ biến năm 1990, trang 34-36:

“Năm 1934, Ông Hồ trở lại Moscou. Stalin đã nắm chắc quyền lực, và những cuộc thanh trừng lớn bắt đầu năm 1937. Có vẻ như con người Hồ Chí Minh tương lai là nạn nhân, vì từ ngày trở lại Moscou, ông ta không được tin cậy để giao phó cho một trách nhiệm nào. Không còn nghi ngờ gì nữa người ta đã trách cứ là ông ta ngả về tinh thần quốc gia trong cuộc chiến đấu chống thực dân thay vì tinh thần cách mạng vô sản quốc tế.”

(En 1934, il est de retour à Moscou. Staline raffermit son pouvoir, les grandes purges vont débuter en 1937. Il apparait avec certitude que le futur Ho Chi Minh faillit en être victime car, depuis son retour, il ne s’est vu confier aucune responsabilité. Sans doute lui reproche-t’on de préférer le nationalisme qui sous-tend le combat anti-colonial à l’internationalisme de la révolution prolatérienne.)

“Về vấn đề này, ông Hồ đã bày tỏ quan điểm của mình từ năm 1924.. Được huấn luyện về cách mạng và chủ thuyết Marx bởi Tây phương, tuy nhiên Quốc đã nhìn theo đặc tính Á Đông: “Cuộc đấu tranh giai cấp ở Đông phương không giống như ở Tây phương. Marx đã xây dựng lý thuyết của mình trên một căn bản triết lý nào đó của lịch sử. Nhưng là lịch sử nào? Đó là lịch sử Âu Châu. Nhưng Âu Châu là gì? Không phải là tất cả nhân loại.”

(À ce sujet, il a expliqué son point de vue dès 1924… Éduqué par l’Occident à la révolution et au marxisme, Quoc est pourtant persuadé, de la spécifícité de l’Orient: “ La lutte de classes ne se manifeste pas en Indochine comme en Occident.” ; Marx a bâti sa doctrine sur une certaine philosophie de l’histoire. Mais quelle histoire? Celle de l’Europe. Mais qu’est ce que l’Europe? Ce n’est pas toute l’humanité).

“Hồ Chí Minh có thực sự là mgười Mác-xít không? Hay ông ta chỉ là người Quốc Gia sau lớp sơn đỏ, như một thành viên Cộng Sản Quốc Tế, ông M. N. Roy, người Ấn Độ, đã nói? Vấn đề này đáng được đặt ra.. Nếu chắc chắn là ông ta đã đọc bản Tuyên Ngôn của Đảng Cộng Sản, nếu đã nhiều lần ông ta nói là chịu ảnh hưởng trí thức và chính trị của Lê-nin, thì sự gắn bó của ông với chủ nghĩa Mác không bao giờ có tính cách giáo điều.“

(Ho Chi Minh était-il vraiment marxiste? Ou n’était-il qu’un “nationaliste peint en rouge”, comme l’a dit un membre du Komintern, l’Indien M.N. Roy? La question mérite đêtre posée… S’il a certainement lu le Manifeste du Parti Communiste, s’il dit maintes reprises sa dette intellectuelle et politique envers Lénine, son adhésion au Marxisme ne fut, pour autant, jamais dogmatique.)

“Năm 1963, người Cộng Sản Lưu Thiếu Kỳ đã phác họa một hình ảnh chính trị của ông Hồ, nếu đúng, cho thấy một vị thế không thoải mái [của ông Hồ] đưa đến một sự gắn bó đôi đàng với lòng yêu nước chấp nhận thỏa hiệp, và chủ nghĩa xã hội độc quyền: “Hồ luôn luôn là người hữu khuynh.. Khi chiến tranh Đông Dương chấm dứt, ông ta không thể quyết định là thiết lập một chế độ tư bản hay một chế độ theo xã hội chủ nghĩa. Chúng tôi đã quyết định cho ông ta.””

(Le communist Chinois Liu Shaoqi esquisse en 1963 un portrait politique de Ho qui, s’il est exact, indique la position inconfortable qui résulte d’une double adhésion au patriotisme consensuel et au socialisme exclusif: “Ho a toujours été un droitiste.. Lorsque la guerre d’Indochine prit fin, il ne put se décider à choisir d’instaurer soit un régime capitaliste soit un régime socialiste. Ce fut nous qui décidâmes pour lui.”)

“Không có gì minh họa rõ hơn sự tương phản giữa Hồ Chí Minh và những người lãnh đạo cộng sản là những trao đổi quan niệm của Mao Trạch Đông và Lưu Thiếu Kỳ với ông Hồ Chí Minh vào năm 1960. Ông Hồ đã tuyên bố rằng ngay cả việc giết kẻ thù cũng không được đạo đức; Mao đã trả lời ông ta: “Tưởng Giới Thạch giết, tôi giết, đó không phải là một vấn đề đạo đức. Và Lưu Thiếu Kỳ thêm vào là viện đến đạo đức khi ta phải đối phó với những tên tư bản chống cách mạng là không thích đáng .”

(Rien n’illustre mieux le contraste entre Ho Chi Minh et d’autres dirigeants communistes que les propos que Mao Zedong et Liu Shaoqi tinrent à Ho Chi Minh en 1960. Ho avait déclaré qu’il n’était pas moral de tuer même ses adversaires; Mao lui répliqua: “Chiang Kaishek tue, je tue, ce n’est pas une question de morale.” Et Liu Shaoqi de renchérir qu’il n’était pas pertinent d’invoquer la morale lorsqu’on avait affaire aux contre-révolutionnaires capitalistes.)

Trong cuốn “The Vietnam War Almanac, General Editor: John S. Bowman, Barnes & Noble Books, NY, 2005”, trang 493, cũng có viết:

“Ông Hồ ít quan tâm đến những chi tiết tế nhị của chủ thuyết Mao và Lê-nin; thiên tài của ông ta là về hành động chính trị, và lý tưởng của ông ta có thể khá co dãn chừng nào mà nó đưa tới mục đích đã ám ảnh ông ta: nền độc lập và thống nhất của Việt Nam.” (Ho was less concerned with niceties of doctrine than Mao and Lenin; his genius was for political action, and his ideology was capable of considerable stretching as long as it tended toward the purpose that obsessed him: the independence and unification of Vietnam.)

Trong cuốn Cracks In The Empire, South End Press, Boston, 1981, Paul Joseph, Giáo sư xã hội học, đại học Tufts, viết, trang 83:

“Dù rằng thiếu bằng chứng, Washington tiếp tục cho rằng cuộc đấu tranh chống Pháp (ở Việt Nam) là do sự hứng khởi và chỉ đạo từ Liên Bang Sô Viết. Thí dụ, trong bức công điện gửi cho Thủ Tướng (Pháp) Ramadier, đại sứ Mỹ vẫn sai lầm cho rằng Việt Minh là một phong trào mà “triết lý và tổ chức chính trị đều phát khởi từ và bị kiểm soát bởi điện Kremlin. Tuy vậy tình báo Mỹ đã cố gắng, và thất bại, để kiếm ra bằng chứng là có mối liên hệ kiểm soát giữa Moscou và Hồ Chí Minh. Một công điện của Bộ ngoại giao gửi cho đại sứ Mỹ ở Trung Quốc viết “Bộ không có bằng chứng nào về sự nối kết trực tiếp giữa ông Hồ và Moscou nhưng cho rằng có.”

(Despite a lack of evidence,Washington continued to perceive the anti-French struggle (in Vietnam) as something inspired and directed from the Soviet Union. For example, in the cable to Premier Ramadier cited above, the American embassador falsely maintained that the Vietminh was a movement whose “philosophy and political organization emanated from and was controlled by the Kremlin.” Yet American intelligence had tried, and failed, to substantiate the existence of controlling ties between Moscou and Ho Chi Minh. A State Department cable to the US Ambassador in China read “the Department has no evidence of a direct link between Ho and Moscou but assumes it exists..)

Marilyn B. Young, trong cuốn The Vietnam Wars: 1945-1990, HarperPerennial, New York, 1991, viết, trang 4:

“Trong vài năm tới, những văn bản Hồ Chí Minh viết bị tố cáo vì những “mùi hôi quốc gia” trong đó, và sự ủng hộ của ông Hồ về một liên minh rộng rãi bao gồm cả các địa chủ cỡ nhỏ và trung bình, miễn là họ yêu nước, bị đả kích là kẻ xét lại và là kẻ hợp tác (với kẻ thù). Phải mười năm sau sự tranh luận đắng cay về mối liên hệ giữa cách mạng quốc gia và cách mạng xã hội mới được giải quyết, theo đường lối lúc đầu đưa ra bởi ông Hồ, sự thành lập Việt Minh (Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh Hội.”

(Over the next few years, Ho Chi Minh’s writings were denounced for their “nationalist stench”, and his support for a broad alliance that could include even small and medium landowners, provided they were patriotic, was attacked as reformist and collaborationist. A decade would pass before this bitter debate on the relationship between national and social revolution was resolved, along the lines initially by Ho, in the formation of the Viet Minh.)

Trên đây chỉ là vài tài liệu trong số hàng trăm tài liệu khác có những nhận định tương tự rải rác trong những cuốn sách mà tôi đã đọc. Lẽ dĩ nhiên, tôi không thể nào trích dẫn tất cả những nhận định ấy trong phạm vi một bài viết như thế này. Điều này đòi hỏi nhiều thời gian và thích hợp trong một cuốn sách viết ông Hồ hơn. Nhưng qua những tài liệu trên, chúng ta có thể thấy rằng ông Hồ không phải là tay sai của Nga và Tàu như một số người có đầu mà không có óc cố tình lên án ông ta là tay sai của Đệ Tam Quốc Tế, hay tệ hơn nữa là “điệp viên của Cộng Sản Quốc tế” [Minh Võ]. Họ không hề biết chính trị của ông Hồ giữa Nga và Tàu, đã khôn khéo từ chối không nhận đề nghị của Nga cũng như Tàu gửi quân tình nguyện vào đánh giúp. Chúng ta hãy đọc một đoạn trong cuốn Ho Chi Minh của Jules Archer, Chương 9: “Giữa Con Gấu Nga Và Con Rồng Tàu” (Between Russian Bear and Chinese Dragon), trang 109:

“Đến Bắc Kinh dự lễ kỷ niệm 10 năm Cách Mạng Trung Quốc, ông Hồ cẩn thận đứng giữa Mao Trạch Đông và đại diện của Nga Sô, Miklai Suslov. Trong những cuộc đàm phán riêng, ông Hồ đã thành công lấy được sự hứa hẹn của cả Bắc Kinh lẫn Moscou để tăng gia giúp thêm vũ khí và viện trợ dân sự, nhưng khôn khéo từ chối những đề nghị gửi quân tình nguyện hay cố vấn quân sự đến Việt Nam. Ông Hồ biết rõ là nếu để cho con gấu Nga hay con rồng Trung Hoa được đặt chân vào cửa ngõ Hà Nội thì dần dần cửa ngõ này sẽ bị cưỡng bách mở rộng ra cho đến khi Bắc Việt mất đi nền độc lập và trở thành một quốc gia bị chiếm.”

(Visiting Peking in 1959 for the 10th anniversary of the Chinese Revolution, Ho was careful to stand between Mao Tse-Tung and Chief Soviet Delegate Mikhail Suslov. In private negotiations, he managed to win pledges of additional arms and aid from both Peking and Moscou, but adroitly declined their offers to send “volunteer” troops or military advisers. Ho knew that if either the Russian bear or the Chinese dragon were allowed to trust a foot inside Hanoi’s door, that door would gradually be forced open until North Vietnam lost its independence and became a captive nation.)

Đọc về ông Hồ chúng ta thấy rõ Mỹ và Pháp, vì những nhận định chính trị sai lầm, đã càng ngày càng đẩy ông ta về phía Cộng Sản, và ông ta không có con đường nào khác, vì để thực hiện mục đích không hề thay đổi của ông là thực hiện nền độc lập và thống nhất của Việt Nam, nên ông ta cần đến các đồng minh. [Hãy nghĩ đến chuyện ông viết 8 bức thư cho Tổng Thống Truman, đến chuyện Mỹ giúp 80% quân phí cho Pháp trở lại tái lập nền đô hộ ở Đông Dương, và rồi dựng lên chế độ Ngô Đình Diệm, vi phạm hiệp định Genève, ngăn chận cuộc bầu cử vào năm 1956 để thống nhất đất nước.]

Cuối cùng, vị thế của ông Hồ Chí Minh đối với dân tộc Việt Nam ra sao? Chúng ta đã biết, Wilfred Burchett đã nhận định ở trên:

Hồ Chí Minh là của toàn thể quốc gia Việt Nam (that Ho Chi Minh belongs to the whole Vietnamese nation.) Không có một lằn danh giới nào ở vĩ tuyến 17 có thể làm cho người dân miền Nam xa lìa Hồ Chí Minh dù rằng thủ đô được đặt ở miền Bắc. Hồ Chí Minh đã được chấp nhận là lãnh tụ và là nguồn cảm hứng cho mọi người Việt Nam – trừ số người đã lần lượt phục vụ những quan thầy Nhật, Pháp, rồi Mỹ.

Nhận định này đúng hay sai? Có lẽ câu trả lời thiết thực nhất là của Hoàng Xuân Ba trong bài “Hai Câu Chuyện Hoàn Toàn Trung Thực”, mới đây đăng trên Đàn Chim Việt:

Chuyện thứ nhất : lá cờ đỏ sao vàng trên mạng:

Trưa 2/9/2006, ngày quốc khánh của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đang nói chuyện với một người bạn Việt Kiều trên Yahoo Messenger (YM) tôi bất ngờ nhận được thông điệp của một người bạn trẻ Việt Nam: “Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta”, kèm theo đó là lời kêu gọi hãy thay đổi avatar (hình ảnh đại diện) trên YM bằng lá cờ đỏ sao vàng, lá cờ biểu trưng cho Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhìn lại danh sách nickname của mình trên YM, tôi thấy rất đông các bạn trẻ thay đổi avatar bằng hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng.

Sáng nay, 4/9/2006, báo Tuổi Trẻ đăng bài: “Mừng Quốc khánh trên mạng”. Trong bài viết này, tác giả mô tả lại hình ảnh nhà nhà treo cờ, người người treo cờ trên mạng: “Lần đầu tiên, cư dân trên mạng đón lễ Quốc khánh hoành tráng bằng cách đưa hình ảnh lá cờ Tổ quốc lên mạn trang trọng trên các blog (nhật ký cá nhân trên mạng) và trên avatar trong công cụ chat YM của mình trong ngày 2-9. Và ngày 3-9, tất cả đều đồng loạt thay vào đó là chân dung của Bác Hồ”.

Chuyện thứ hai : lăng ông Hồ Chí Minh :

Tôi đã có dịp gặp gỡ trên mạng với bạn đọc của DCVOnline gần đây qua bài Tản mạn vể xã hội chủ nghĩa ở Hà Nội, đăng ngày 31/08/2006 (với hàng chục ý kiến khác nhau). Cũng dịp công tác này, tôi tranh thủ được một thời gian ngắn để ghé thăm lăng ông Hồ với mục đích tìm hiểu xem thái độ, tình cảm của người dân Việt Nam và nhất là người dân Hà Nội đối với ông Hồ ra sao. Điều làm tôi thật bất ngờ là có rất nhiều cá nhân đến viếng thăm lăng ông, các đoàn viếng lăng vào ra tấp nập. Để vào thăm lăng của ông tôi được một anh bảo vệ cầm loa phóng thanh bắt phải đứng xếp vào hai hàng dọc, một đặc trưng của xã hội chủ nghĩa, rồi theo đó vào lăng. Quả thật tôi cảm nhận được sự trang nghiêm của lăng mộ ông Hồ và cả sự sùng bái của những người dân bình thường viếng thăm lăng. Một cách tự động, tất cả mọi người đều kính cẩn, nghiêm trang khi đi ngang qua xác ông được đặt trong một cái hòm rất rộng, bốn bên là kính trong suốt. Trông ông không giống như những bức hình chụp mà tôi từng thấy, khuôn mặt trông vẫn còn rất tươi tắn hồng hào nhưng trông giả chứ không thật, có lẽ bị đánh sáp.

Báo chí Việt Nam sáng 4/9/2006 đều đồng loạt đăng tin về việc có hàng vạn người đến viếng thăm lăng ông Hồ. Báo Tuổi Trẻ viết: “Sáng 2/9, đoàn người vào lăng viếng Bác dài ra tận hai phía trên phố Ngọc Hà và Hùng Vương. Đông nhất là các đoàn học sinh và người già từ các tỉnh Thái Nguyên, Hà Tây. Còn có rất nhiều đoàn đến từ tỉnh xa như Cao Bằng, Nghệ An, Quảng Trị, Bình Phước... Có nhiều người nước ngoài cũng đứng trong đoàn người từng bước vào lăng. Khu vực quảng trường trước lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc nào cũng đông kín người”.

Một thông tin đáng chú ý đó là thiếu tướng Đào Hữu Nghĩa, trưởng Ban quản lý lăng kiêm tư lệnh Bộ tư lệnh bảo vệ lăng ông Hồ cho biết đến hết buổi viếng ngày 2/9 chỉ khoảng 25.000 lượt người được vào viếng lăng ông, số còn lại đành phải chờ đến hôm sau. Tôi tin rằng con số trên rất thật bởi vì tôi đã được tận mắt chứng kiến dòng người xếp hàng dài vào viếng lăng ông Hồ, không nhất thiết phải do cơ quan hay các hội đoàn tổ chức.

Duiker cũng viết, trang 566: “Mỗi tuần có hơn 15000 người đến viếng thăm Lăng ông Hồ” (More than 15000 visit the mausoleum each week)

Tại sao ngày nay người dân Việt Nam vẫn còn kính ngưỡng ông Hồ Chí Minh, tuy rằng trên diễn đàn truyền thông hải ngoại có cả một chiến dịch để xóa bỏ “thần tượng Hồ Chí Minh”? Lý do rất dễ hiểu là phần lớn những điều viết về ông Hồ của giới chống Cộng là sai lầm, là vô căn cứ, bắt nguồn từ lòng thù hận một chiều của những người gọi là Quốc Gia, chứ không đặt trên những sự thật và sự kiện lịch sử. Thật vậy, những người chống Cộng cực đoan như Minh Võ chỉ nhìn thấy những điều lặt vặt như chúng ta thấy trong bài ông ta phê bình cuốn “Ho Chi Minh, A Life” của William J. Duiker. Để có thể thêm vài chi tiết về ông Hồ Chí Minh, có lẽ tôi cũng nên điểm qua bài phê bình Duiker của Minh Võ.

Xem tiếp Phần 2

TCN.


Ai Là Ác Nhân Nhất Thế Kỷ 20 ? (Trần Chung Ngọc sưu tầm)
Di Hại Của “Nền Đạo Lý Thiên-La Đắc-Lộ” (Trần Chung Ngọc)
Nguyễn Trường Tộ - Từ Huyền Thoại Đến Thực Chất (Trần Chung Ngọc)
Nhận Định Về DVD "Sự Thật Về Hồ Chí Minh" (Trần Chung Ngọc)
Thư mục để tham khảo (Trần Chung Ngọc)
Vài Nét Về Cụ Diệm (Trần Chung Ngọc)
Vài Nét Về Cụ Hồ -1 (Trần Chung Ngọc)
Vài Nét Về Cụ Hồ -2 (Trần Chung Ngọc)
Xét Lại Huyền Thoại Nguyễn Trường Tộ - Nhân Đọc... (Trần Chung Ngọc)
ĐIỆN BIÊN PHỦ, hay Đâu Là “Sự Thật Lịch Sử” Của Lữ Giang (Trần Chung Ngọc)

lmhuule wrote on Nov 20, '09
VÀI NÉT VỀ “CỤ HỒ”

Trần Chung Ngọc
đăng ngày 17 tháng 5, 2007

Toàn phần: 1 2

Mời xem Youtube về Cụ Hồ

PHẦN 2

Trên website Đàn Chim Việt, Minh Võ có viết bài phê bình cuốn “Ho Chi Minh, A Life” của William J. Duiker. Sau đó Minh Võ còn “đọc lại Trần Dân Tiên” và đưa ra một số ý kiến. Đọc hai bài này, chúng ta thấy rõ trình độ của ông Minh Võ không thể gọi là trình độ, kiến thức của Minh Võ không thể gọi là kiến thức. Tôi không có ý định phê bình chi tiết hai bài trên của ông Minh Võ, chỉ duyệt qua vài điểm, cùng trình bày vài ý kiến của độc giả về ông Minh Võ để chúng ta thấy rõ Minh Võ thuộc loại người nào. Trước đây, trên trang nhà Giao Điểm, Hà Giang đã có bài nhận định về cuốn “Ho Chi Minh” của Duiker, viết đứng đắn và nghiêm chỉnh hơn ông Minh Võ rất nhiều.

Link: http://www.giaodiem.com/doithoaiII/Hagiang_hcm.htm

Trước hết, Lê Duy Khoa trên Đàn Chim Việt đã vạch ra rằng ông Minh Võ đã áp dụng bậy bạ tam đoạn luận để phỉ báng ông Hồ như sau:

a) Chủ nghĩa cộng sản của Karl Marx là sai lầm, dối trá, tàn ác, phản nhân đạo, phản dân tộc. [TCN = Đây là một khẳng định vô trách nhiệm (affirmation gratuite). Cũng như Trần Mạnh Hảo, ông Minh Võ, không hiểu gì về Marx mà cứ viết bậy về Marx. Thế giới ngày nay đánh giá Marx như thế nào? Vị trí của Marx trong số những tư tưởng gia vĩ đại của thế giới là như thế nào?. 1. “Theo kết quả thăm dò ý kiến thính giả đài BBC Radio 4 trong tháng 7, 2005 thì, trong số 20 tư tưởng gia được biết đến, kính trọng, và có ảnh hưởng nhiều nhất, Marx lại được coi như là một triết gia vĩ đại nhất của mọi thời đại”??. [BBC Press Release: 13-7-2005: Out of a shortlist of twenty of the best known, most respected and influential philosophical thinkers, nominated by the In Our Time audience, Karl Marx has been voted the Greatest Philosopher of all time by BBC Radio 4 listeners.] Theo bảng kết quả thì David Hume, một nhà nhân bản, xếp hạng 2, Nietzshe hạng 4, Kant hạng 6, và Aquinas của Ki-tô Giáo hạng 7. 2. “Kết quả chọn vĩ nhân của Đức Quốc, với con số tham dự trên 5 triệu người, Karl Marx đứng hàng thứ 3 trong 100 ứng viên, Albert Einstein đứng hàng thứ 10 (www.unserebesten.zdf.de). Lạ nhỉ, cả thế giới trí thức này mù và ngu cả hay sao mà không nhìn và đánh giá Marx như ông Minh Võ? ]

b) Hồ Chí Minh là người theo chủ nghĩa cộng sản [Không ai phủ nhận điều này]

c) Kết luận: không thể coi HCM là nhân đạo, yêu nước, anh hùng mà phải coi ông ta là tội đồ ác ôn của đất nước.

Chúng ta thấy ngay, ông Minh Võ đã dựa trên sự hoàn toàn sai lầm của mình trong vế a) để đưa đến một kết luận tất nhiên cũng hoàn toàn sai lầm trong vế c). Nhưng không phải chỉ có vậy. Đọc Minh Võ, chúng ta thấy rõ qua giọng văn một sự thù hận ngất trời và phản ánh một trình độ hiểu biết quá thấp kém của mình. Đối với tôi, Minh Võ không phải là người đáng để tôi phê bình về những “tác phẩm” của ông ấy, tôi để dành điều này cho một số độc giả trên Đàn Chim Việt trong phần trích dẫn ở cuối bài. Ở đây tôi chỉ muốn nêu ra một lý luận rất ngớ ngẩn nếu không muốn nói là ngu xuẩn của ông Minh Võ khi phê bình đoạn sau đây của Duiker.

“Bất kể cuối cùng người đời phán xét về di sản của ông [Hồ] để lại cho dân tộc mình ra sao, ông Hồ đã chiếm được một chỗ trong ngôi đền thờ những anh hùng cách mạng từng đấu tranh mạnh mẽ để những người cùng khổ trên thế giới có được tiếng nói đích thực của họ.”

Vì Nhà Nước VN muốn dịch cuốn “Hồ Chí Minh” của Duiker nhưng muốn bỏ đi những đoạn nói về đời tư của ông Hồ, nên ông Minh Võ phê bình như sau: “Hồ Chí Minh đã tạo ra cái di sản ngăn cấm ngay tiếng nói của một sử gia [Duiker] thì có thể là bậc anh hùng đã đấu tranh mạnh mẽ cho tiếng nói đích thực của những kẻ cùng khổ được cất lên chăng?”

Thứ nhất ông Minh Võ không hiểu thế nào là di sản. Thứ nhì, cái di sản ông Hồ để lại cho dân tộc là nền độc lập quốc gia sau khi cất bỏ được chế độ thuộc địa của thực dân Pháp trên đất nước, và tiếp nối bởi chính ông và những người sau ông trong việc thành công đi đến sự thống nhất đất nước. Di sản đó tuyệt đối không phải là chính sách luôn luôn thay đổi của Nhà Nước và lẽ dĩ nhiên không phải là yêu cầu của Nhà Xuất Bản Chính Trị Việt Nam đối với Nhà Xuất Bản Hyperion ở New York như chúng ta thấy trong tài liệu sau đây trên Internet:

“Trong một bức thư cho nhà Xuất Bản Sách Hyperion ở New York, Nhà Xuất Bản Chính Trị Quốc Gia của chính quyền (VN) đã nói rằng họ chỉ muốn bỏ đi vài đoạn trong cuốn sách của Duiker “không phù hợp với những thông tin trong hồ sơ của họ.” (In a letter to New York publisher Hyperion Books, the state-run National Politics Publishing House has said only that it wants to remove certain passages from the Duiker biography that "do not conform with the information in our files".)

Đây có phải là một hành động ngăn cấm hay không hay chỉ là một đề nghị thương thuyết? Đầu óc như vậy mà ông Minh Võ muốn làm việc đội đá vá trời là xóa bỏ thần tượng Hồ Chí Minh thì đúng là sự mơ tưởng hão huyền của những kẻ cuồng tín vô minh.

Một nhận định khác có tính cách phóng đại rất lố bịch của ông Minh Võ về cuộc cải cách ruộng đất như sau:

“Thời ông HCM cũng thế nếu ông ấy tôn trọng Hiến pháp sao ông lại làm cải cách ruộng đất giết chết hơn nửa triệu người.?”

Ông lấy con số “hơn nửa triệu” này ở đâu ra? Chắc chắn là ông chưa hề đọc đến những công cuộc khảo cứu rất sâu rộng về Cải Cách Ruộng Đất ở Việt Nam: Mục đích, kết quả, số nạn nhân v..v.. của Gareth Porter, Edwin E. Moise, Noam Chomsky và Edward S. Herman. Rất có thể ông chỉ tin vào con số đoán mò của Hoàng Văn Chí, người đã thú nhận là con số nạn nhân trong cuộc cải cách ruộng đất chỉ là đoán mò sau khi bị Gareth Porter công khai vạch ra những sự giả mạo trong tài liệu của Chí [Chi eventually conceded that his number of victims of the land reforms to be merely a “guess” (The Washington Post, 13 September, 1972). This admission came after Porter had made Chi’s falsification public.] Thật là đẹp mặt cho Hoàng Văn Chí và cho cả Minh Võ.

Theo những tài liệu của Noam Chomsky và Edward S. Herman cũng như của Gareth Porter và Edwin E. Moise thì Hoàng Văn Chí vốn là một địa chủ ở ngoài Bắc, sau đó làm cho Bộ Thông Tin của Chính Quyền miền Nam, rồi làm việc cho CIA và làm thông dịch viên cho Cơ Quan Thông Tin Hoa Kỳ. Trong bài “The Myth of the Bloodbath: North Vietnam’s Land reform Reconsidered” (Bulletin of Concerned Asian Scholars, September 1973, pp. 2-15), Gareth Porter đã vạch ra vài đoạn Hoàng Văn Chí dịch bậy bài thú nhận có sai lầm trong việc thi hành cải cách ruộng đất của Tướng Võ Nguyên Giáp với mục đích giúp quan thầy Mỹ và miền Nam tuyên truyền xuyên tạc, thí dụ :

“Chúng ta không chú trọng đề phòng lệch lạc” đáng lẽ phải dịch là “We did not pay attention to precautions against deviation” thì Hoàng Văn Chí dịch là “Chúng ta phạm phải quá nhiều lệch lạc” (We made too many deviations); “Xử trí oan những người ngay” thay vì dịch là “the unjust disciplining of innocent people” thì Chí dịch là “hành quyết quá nhiều người lương thiện” (executed too many honest people); “không nhấn mạnh phải thận trọng, tránh…” [did not emphasize the necessity for caution and for avoiding] thì Chí bỏ đi không dịch (omitted); “dùng những biện pháp trấn áp quá đáng” [used excessive repressive measures] thì Chí dịch là “xử dụng đế khủng bố” (resorted to terror); “thậm chí dùng phương pháp truy bức” [even coercive measures were used] thì Chí dịch là “tệ hơn nữa, tra tấn” (worse still, torture) v..v.. và còn thêm thắt vào những đoạn không có trong bản văn như “nhìn thấy kẻ thù khắp nơi” (seeing enemies everywhere) mà Gareth Porter không tìm thấy trong bản gốc (not in original).

Noam Chomsky và Edward S. Herman còn vạch ra rằng, trong những cuộc phỏng vấn vào năm 1955, Hoàng Văn Chí không hề nói gì đến cuộc cải cách ruộng đất và con số những nạn nhân. Chỉ trong vài năm sau, sau khi Mỹ và Saigon biết đến những vấn đề trong cuộc cải cách ruộng đất từ những cuộc thảo luận trên báo chí ở Hà Nội mà Moise cho là “thẳng thắn kỳ lạ trong sự thảo luận những sai lầm và thất bại” (sometimes extraordinarily candid in discussing errors and failures”, Chí mới “nhớ lại” những điều viết trong tài liệu của mình.

Noam Chomsky và Edward S. Herman viết trong cuốn The Political Economy of Human Rights, Vol. I, South End Press, Boston, 1979, trang 342:

“Nguồn thông tin căn bản về những con số giết chóc lớn trong cuộc cải cách ruộng đất ở Bắc Việt là từ những người của CIA hoặc Bộ Thông Tin Tuyên Truyền Saigon. Theo một người Việt Công giáo nay sống ở Pháp, Trung Tá Nguyễn Văn Châu, Chỉ Huy Cơ Quan Chiến Tranh Tâm Lý Trung Ương của quân đội Saigon từ 1956 đến 1962, số nạn nhân bị “tắm máu” trong cuộc cải cách ruộng đất là “100% dựng lên” bởi cơ quan tình báo Saigon. Theo Trung Tá Châu, một chiến dịch có hệ thống dùng các tài liệu ngụy tạo để bôi nhọ đối phương được thi hành vào giữa thập niên 1950 để biện minh cho sự kiện là Diệm từ chối không thương thuyết với Hanoi trong việc sửa soạn tổ chức cuộc bầu cử để thống nhất đất nước quy định vào năm 1956.” (The basic sources for the larger estimates of killings in the North Vietnamese land reform were persons affiliated with the CIA or the Saigon Propaganda Ministry. According to a Vietnamese Catholic now living in France, Colonel Nguyen Van Chau, head of the Central Psychological War Service for the Saigon Army from 1956 to 1962, the “bloodbath” figures for the land reform were “100% fabricated” by the intelligence services of Saigon. According to Colonel Chau, a systematic campaign of vilification by the use of forged documents was carried out during the mid-1950s to justify Diem’s refusal to negotiate with Hanoi in preparation for the unheld unifying elections originally scheduled for 1956)

Giáo sư sử học James P. Harrison cũng viết trong cuốn The Endless War: Vietnam Struggle For Independence, Columbia University Press, 1989, trang 149:

“Tuy nhiên, những cuộc nghiên cứu kỹ về sau đã ước tính là con số những người bị giết trong cuộc cải cách ruộng đất ở ngoài Bắc là vào khoảng 1500 cộng với 1500 bị cầm tù, theo một tác giả, hoặc có thể lên tới 15000 theo một tác giả khác, và do đó hầu hết những con số tuyên truyền của Saigon về vấn đề này là những con số phóng đại nếu không phải là hoàn toàn dựng đứng.” (Careful later studies, however, have estimated that the true figures for those executed in the noerthern land reform may have been more like 1500 plus 1500 jailed according to one, or possibly up to 15000 killed according to another, and therefore that most of Saigon’s propaganda on the subject was exaggerated if not a “total fabrication”.)

Giáo sư Pierre Brocheux viết trong bài “Con Người Trở Thành Hồ Chí Minh” , trang 34:

“Đối với Hồ Chí Minh, tập thể hóa đất đai là sự bảo đảm phân chia đồng đều tài sản. Nhưng ông ta tố cáo sự dùng những hành phạt thể xác đối với các địa chủ và các nông dân giàu có và yêu cầu thi hành một chương trình sửa sai những sự bất công và phục hồi những sở hữu của nông dân thuộc quyền của họ (1956). Nhưng ông ta phải nhượng bộ trước đa số trong Đảng. Chiến dịch cải cách ruộng đất làm cho ít nhất là 15000 người chết.” (Pour Ho Chi Minh, la collectivisation des campagnes est la garantie d’une répartition égalitaire des resources. Mais il dénonce l’utilisation des peines corporelles contre les “propriétaires fonciers et riches paysans” et demande une programme de correction des injustices et la restauration des paysans propriétaires dans leurs possessions et leurs droits (1956). Il s’incline pourtant devant la majorité du Parti. La réforme agraire côutera la vie à 15000 personnes au moins.)

Về con số “hơn nửa triệu” của ông Minh Võ, chúng ta có thể đối chiếu với một số tài liệu khác: Của Gareth Porter: từ 800 đến 2500; của Edwin E. Moise (sau một công cuộc nghiên cứu sâu rộng hơn): vào khoảng 5000 và chắc chắn trong khoảng từ 3000 đến 15000; của Trương Như Tảng, David Chanoff và Đoàn Văn Toại trong cuốn “A Viet Cong Memoir”: nhiều ngàn (thousands); của Bùi Tín trong Mặt Thật: “lên tới mười mấy ngàn”; của Vũ Thư Hiên: từ 4000 đến 5000. Chúng ta không thể biết chính xác con số bị giết trong cuộc cải cách ruộng đất. Nhưng xét đến số làng mạc, ruộng đất ở ngoài Bắc, số địa chủ thực sự, số nông dân nghèo khổ phải thuê đất [một số của Nhà Chung] để cầy cấy v..v.. thì con số “hơn nửa triệu” của ông Minh Võ là con số chỉ có trong đầu của ông Minh Võ.

Trên diễn đàn Đông Dương Thời Báo, tháng 5, 2006, chúng ta có thể đọc một đoạn về cải cách ruộng đất của chủ biên người Công Giáo, Giu-se Phạm Hữu Tạo, như sau:

Thật vậy, Hồ Chí Minh thực hiện cải cách ruộng đất, muốn lấy lại đất mà không phải giết nhiều người, vì lúc đó các địa chủ có tiền bạc tài sản, chạy thoát trước về vùng Pháp chiếm đóng… Cải cách ruộng đất là việc phải làm ở trong Nam cũng như ngoài Bắc. Phải lấy lại đất của Pháp, của nhà Chung để chia cho cán bộ và nông dân có sức lực và siêng năng cần cù mà không có đất để sống và cày bừa và hy sinh cho cách mạng quyết dành chủ quyền - độc lập - thống nhất đất nước … Chính sách cải cách ruộng đất đương nhiên là đụng đến Giáo hội và giáo dân Công giáo Việt gian, cho nên chúng ta không lạ gì tại sao người Công giáo căm thù CSVN và ngụy tạo bôi đen chính sách Cải Cách Ruộng Đất.

Hiện tượng Minh Võ thì hầu như ai cũng biết về ý đồ và trình độ của ông ta như thế nào. Để quảng cáo cho cái ý đồ này, ông ấy nhờ một người quen biết trẻ hơn, có cùng trình độ như ông ấy, lên tiếng quảng cáo cho cuốn Hồ Chí Minh: Một Nhận Định Tổng Hợp của ông ấy trong buổi ra mắt sách. Đó là ông Huỳnh Lương Thiện. Nhưng đọc Huỳnh Lương Thiện chúng ta thấy rõ là trình độ của ông ấy cũng chẳng hơn Minh Võ là bao nhiêu. Chứng minh?

Ông Huỳnh Lương Thiện phát ngôn:

Tôi nghĩ rằng tôi chỉ đáng em hay con của rất nhiều vị ngồi trong phòng này mà thôi. Thế mà quý vị có thể tưởng tượng là có kẻ khi tuổi còn nhỏ hơn, chỉ đáng em của tôi thôi mà đã dám xưng là bác với cả nước chúng ta. Quý vị biết đó là ai không? Hồ Chí Minh. Vâng, cám ơn quý vị đã cho biết kẻ đã dám xưng bác với cả nước là Hồ Chí Minh, tôi cũng biết điều đó. Tuy nhiên phải đến khi đọc cuốn sách này của bác Minh Võ thì tôi mới biết thêm là họ Hồ đã dám xưng bác với cả nước khi chỉ mới 55 tuổi, bằng tuổi cô em gái tôi.

Thưa quý vị, tôi tuổi Canh Dần, 56, 57 tuổi rồi và đó là một trong hàng chục, hàng trăm dữ kiện độc đáo, đặc biệt mà tôi đã tìm thấy trong cuốn sách này.

Như vậy là ông Huỳnh Lương Thiện sinh khoảng năm 1949-1950, tất nhiên đích thân không biết gì về ông Hồ Chí Minh mà chỉ biết qua những sự kiện mà ông ấy cho là độc đáo trong cuốn sách của Minh Võ. Rõ ràng là, dựa vào điều viết bậy của Minh Võ trong cuốn sách của ông ấy, Huỳnh Lương Thiện đã phát ngôn bậy như trên. Nhưng dữ kiện trên có thật là độc đáo không? Rất có thể là độc đáo ở chỗ đã để lộ cái trình độ vô cùng thấp kém của mình về văn hóa và ngôn ngữ Việt Nam.

Thứ nhất, từ “Bác” mà ông Hồ Chí Minh dùng chỉ để nói với các “cháu nhỏ” trong vòng thân tình như người trong một nhà. Bác, nguyên nghĩa là anh của Bố hoặc Mẹ, và người Việt Nam thường dùng tiếng “Bác” để gọi thay con. Tiếng Bác cũng còn được dùng giữa các bạn bè cao tuổi dù rằng người bạn kém tuổi mình “Nguyễn Khuyến: Kể tuổi tôi còn hơn tuổi bác (Dương Khuê)”. Ông Hồ có thói quen là bất chợt đi thăm các em nhỏ trong trường học và nói những chuyện “Bác cháu ta”. Chưa ai thấy ông Hồ xưng là Bác với cả nước như ông Huỳnh Lương Thiện đã nói bậy dựa theo lời viết bậy của Minh Võ bao giờ. Người dân Việt Nam gọi ông Hồ là “Bác” nghĩa là coi ông như là bậc trưởng thượng thân tình của các con cháu trong nhà. Các ông chống Cộng mà chẳng biết gì về văn hóa và ngôn ngữ Việt Nam. Hãy đọc Peter A. DeCaro ở Buena Vista University viết về ông Hồ Chí Minh (acjournal.org):

“Chức “Bác” của ông Hồ phải được hiểu trong ngữ cảnh của nền văn hóa Trung Hoa trong đó người cao tuổi hơn được đặc biệt tôn kính. Bác (big uncle) là từ dùng để chỉ người anh của Bố hoặc Mẹ, người em nhỏ tuổi hơn gọi là “Chú”. Thật là tự nhiên khi người dân gọi [ông Hồ] là “Bác Hồ” vì những đồng nghiệp của ông ta thuộc một thế hệ trẻ hơn. Do đó Bác là một từ thân thuộc và những người Cộng Sản ở miền Bắc thường đưa ra sự kiện là mọi gia đình đều coi Bác Hồ là một thành phần vinh dự của gia đình. Còn nữa, Bác đồng nghĩa với cách cư xử dân chủ: người Cha có thể ra lệnh, nhưng người Bác [hay Chú] chỉ có thể đưa ra những lời khuyên.”

(Ho’s title of “Bac” must be understood in the context of Chinese culture in which the eldest members of society enjoy especial veneration. Bac means “big uncle;” it is the term used to denote the elder brother of a father or mother while the younger brother is referred to as Chu, “little uncle.” It was only natural that people began to speak of Bac Ho because his closest colleagues already belonged to a younger generation. Bac is therefore a familiar term and the Communists in North Vietnam liked to point out that every family considered Bac Ho an honored member. In addition, Bac is synonymous with democratic conduct; the father can command, but the uncle only advises.)

Ông Minh Võ cũng như ông Huỳnh Lương Thiện hiển nhiên là những người không biết ngượng vì chính cái trình độ hiểu biết thấp kém của mình về xã hội Việt Nam so với một người ngoại quốc như Peter A. DeCaro. Nhưng, như đã nói ở trên, các ông thuộc lớp người chỉ viết bậy, cốt hả lòng thù hận, cho nên không cần đến trí tuệ, không cần đến kiến thức, không cần đến trình độ, và không cần đến liêm sỉ. Tôi nghĩ rằng đối với những người như các ông, tôi không nên phí thêm thời gian để phê bình nữa. Nhưng có điều các ông cần biết, là thủ đoạn và trình độ của các ông không thể qua mắt được lớp trẻ ngày nay.

Vậy sau đây, tôi xin nhường chỗ cho vài tiếng nói của lớp trẻ trên Đàn Chim Việt:

1) Tôi cho rằng chính vì không tự mình tìm hiểu vấn đề một cách chủ động, giống như ông bạn Lương Thiện đăng đàn ở trên, bạn đã rơì quá dễ dàng vào những thứ lý sự quá đơn giản của những nhà nghiên cứu nửa mùa kiểu Minh Võ. Bạn hãy thử đề nghị Minh Võ đem dịch cuốn sách của mình ra tiếng Mỹ để xem những học giả Mỹ nghĩ gì. Cam đoan với bạn không đáng một cái nhếch mép! Trong nghiên cứu, kết luận về vấn đề nêu ra không quan trọng bằng cái phương pháp nghiên cứu đã dẫn đến kết luận ấy, đó là điều căn bản. Xin bạn lưu ý: đây là một vấn đề sử học, một vần đề khoa học chứ không phải là chuyện biểu diễn diễn lập trường, hoặc tệ hơn nữa bộc lộ oán thù, phục hận.

2) Tôi chưa đọc cuốn sách "HCM, Nhận định tổng hợp" của Minh Võ nhưng đã "thử" đọc mấy bài viết của Minh Võ trên DCV Online, và chưa lần nào "tiêu hóa" nổi trọn vẹn một bài của Minh Võ. Không thể "tiêu hóa" nổi vì giọng văn của Minh Võ đầy hằn học và hận thù; người đọc (ngay cả lớp trẻ) có thể dễ dàng nhận thấy đó là giọng văn của một loser. Không thể "tiêu hóa" nổi vì những phân tích và nhận định của Minh Võ chẳng dựa trên phương pháp luận khoa học và những tài liệu lịch sử nào. Còn những bài viết của HCM để tuyên truyền, kêu gọi người dân đứng lên giành độc lập cho đất nước là những nghệ thuật vĩ đại; nó sánh như Nguyễn Trãi khi bôi mỡ vào lá cây cho kiến ăn để tạo ra dòng chữ "Lê Lợi làm vua, Nguyễn Trãi làm tôi", hoặc là truyền thuyết về anh em vua Quang Trung thuần phục được ngựa thần trên núi.

Sách của Minh võ là tiểu thuyết để giải trí ư? Không đáng; là sách lịch sử ư? Không phải. Có thư viện nào người ta mua và lưu trữ sách của Minh Võ không? Không có. Cái ông Lương Thiện gì đó chẳng lương thiện tí nào đang quảng cáo sách cho Minh Võ đó; và cũng nhân cái diễn đàn này ông ta gài thêm mấy khẩu hiệu chống cộng cũ rích - cũng là giọng hằn học của một loser.

3) Anh Lương Thiện và Minh Võ đã lấy cái định kiến ác ý cuả chính mình, hội đoàn mình để chủ trương bôi nhọ chủ tịch Hồ Chí Minh- Một nhân vật vĩ đại, kiệt xuất số một; Vô tiền, khoáng hậu trong lịch sử VN và nhân loại. Đó là những lời vu khống; Lập lờ đánh lận con đen; Câu chữ cắt xén, biạ đặt một cách có chủ ý, có kế hoạch hòng làm lu mờ thần tượng vĩ đại của dân tộc ta.

Những người có thiện ý, thiện tâm... Thường có con mắt bao dung, độ lượng, nhìn vào mặt sáng, khai thác mặt sáng - Mặt tích cực. Công đức và thành tựu mà các vị giáo chủ hay vĩ nhân đó đã làm được cho dân, cho nước và nhân loại. Còn kẻ tiểu nhân đã mang sẵn định kiến hận thù thì sẽ làm ngược lại. Họ cũng biện chứng, dẫn chứng, có lang, có lớp như ai.. Nhưng đó chỉ là cách ngụy biện rẻ tiền. Chỉ cần chú ý đôi chút là ta sẽ nhìn rõ chân tướng chúng.

4) Rêu rao là người hiểu biết sâu sắc về chủ nghĩa cộng sản nhưng kiến thức của Minh Võ về vấn đề này chỉ là một con số không to tướng. 1) MV đã sai lầm hoàn toàn khi đồng hoá Marx với Đệ tam Quốc tế của Lenin. Học thuyết Marx là sản phẩm của xã hội tư bản phương Tây thế kỷ 19 trong khi đó ĐTQT là phản ứng của những nước ngoại vi với các nước giàu đã trở thành thực dân, đế quốc. 2) MV chỉ biết Marx qua Tuyên ngôn cộng sản 1848, không đếm xỉa gì đến những tác phẩm khác của Marx. Ngay cả với Tuyên ngôn này, MV cũng chỉ bám vào những từ ngữ tách rời khỏi hệ thống lý luận mà Marx đã mang ý nghĩa cho chúng (tư hữu, vô sản, quốc tế vô sản, chuyên chính…). 3) MV không hiểu biết gì về những mâu thuẫn thực tế của lịch sử hiện đại – giữa các quốc gia (giàu/giàu, giàu/nghèo, thực dân/bị trị, phát triển/chậm tiến…) , giữa các ý thức hệ (chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa tư bản, cộng sản, phát xít…) do đó đã trút tất cả vào mâu thuẫn cộng sản/ chống cộng sản một cách máy móc. 3) Riêng với những nước bị thực dân thống trị vấn đề cướp nước và chống cướp nước đã bị MV đầy lùi về phía sau một cách cố ý rồi mượn luận điệu của thực dân đồng hoá cộng sản với khủng bố, nổi loạn để biện hộ cho tội cướp nước của chúng. Bị cộng sản kết cho cái tội “Việt gian” không có gì là oan cả.

5) Phương pháp gọi là “nghiên cứu” của MV cũng hoàn toàn phản khoa học. Ông ta không tìm hiểu thực tế và những phát sinh và chuyển động của nó để rút ra kết luận mà ngược lại: gán cho cộng sản một số thuộc tính chết cứng rồi từ đó kết án tất cả những biểu hiện khác nhau trong thời gian của phong trào cộng sản (bất chấp những nội dung khác nhau, mâu thuẫn trong phong trào ấy). Trong tranh luận, nghiên cứu người ta gọi phương pháp ấy là procès d’intention, không cần tìm hiểu, phân tích xem sự thực như thế nào mà chỉ cần quy kết theo thiên kiến của mình là đủ. Ai cũng biết đó là phương pháp suy luận của những đàn bà hay ghen (nhìn đâu cũng thấy những kẻ cướp chồng minh), những kẻ bị bệnh tâm thần ( nhìn đâu cũng thấy kẻ hại mình). Chẳng có gì khoa học, học thuật ở đây cả. Lý luận của MV rất phù hợp với cộng đồng những người có thâm thù với cộng sản: họ không còn đủ sáng suốt để nhìn ra đúng sai trong chủ nghĩa cộng sản (chủ nghĩa cộng sản có rất nhiều cái sai) như một hiện tượng lịch sử, từ lý thuyết đến thực hành, cũng không đủ lý trí để nhìn ra ngay cả những đúng sai trong bản thân những thất bại nhục nhã, đau đớn của họ nữa. Đối với những con người như vậy, họ chỉ cần đổ lỗi để biện minh, chỉ cần bôi bác, nguyền rủa để trả hận là đủ. Thứ lý luận của MV chỉ có thể lừa được những tên chống cộng ngu dốt thôi.

6) Thực ra thì "Nhận định tổng hợp ", hay không tổng hợp thì người ta cũng biết rõ: Hằn học, chửi rủa thoá mạ một nhân vật lịch sử của VN như cố chủ tịch HCM là những người như thế nào ! Có rất nhiều gương mặt khác nhau dưới đủ mọi chiêu bài. Rất may, qua đó người ta càng hiểu hơn thế nào là tính chân xác của lịch sử. Sẽ chẳng có người VN tỉnh táo nào lại lên án Vua Lê Lợi, khi chỉ vì quyền lợi quốc gia mà đem vợ mình cúng sống thần biển. ( bây giờ việc làm đó là thất đức và nặng mùi mê tín ) Nhưng mỗi người dân VN, đều công nhận Lê Lợi, đó là một vị Vua có công đánh đuổi ngoại xâm, lập nên nhà Lê dài hơn 300 năm. Chắc chắn, thời buổi của ông không có máy tính, để bị lên án và vạch trần nhiều thủ đoạ, mà tất cả vì đất nước v.v. Trong công cuộc xây dựng, mở nước, và giữ nước, chưa có ông Vua VN nào chuyên viết thỉnh nguyện thư gởi cho kẻ thù, để mong được kẻ thù thương mà trả nước. Tất cả các chiến công lẫy lừng như Bạch Đằng giang dậy sóng, hay trận Chi lăng ghi sử sách, chẳng viết bằng máu của dân VN đó sao? Chẳng lẽ trận Rạch gầm, Xoài mút được viết bằng máu của người Miên hay Lào ? Đó là máu của người VN đã đổ cho đất nước hôm nay. Dù muốn nói gì và nói sao chăng nữa thì lịch sử đã chứng minh: Pháp đô hộ Việt nam, Mỹ muốn cứu đồng minh và Người Nhật đã làm cho hai triệu đồng bào ruột thịt của chúng ta chết đói. Biết đâu trong chúng ta, có những người là con cháu của những người may mắn nhờ có Việt minh phá kho thóc của Nhật.

7) Dù nói gì đi chăng nữa, thì một dân tộc với mã tấu răng đen như các anh vẫn gọi, thế mà trong một thế kỷ đánh gục đầu ba nước to lớn. Thử hỏi trong lịch sử từ cổ chí kim của nhân loại hỏi ai đã làm được như thế ? Người làm được chuyện đó ngoài HCM thì còn có ai ? Chẳng lẽ Ngô chí sỹ chăng hay Cựu hoàng Bảo đại ? Tui biết trong thân tâm cũa người ngoại quốc, nhất là với người Mỹ, người Pháp và nhiều người dân thuộc các nước nhược tiểu khác, trong con mắt của họ: HCM là nhà tổ chức kỳ tài! Nếu không đủ đức đủ tài, mà như tui và các anh chẳng hạn, thì làm sao làm được những việc kinh thiên động địa trên. Như chính chủ tịch HCM, công nhận hễ là con người thì ai cũng có khuyết điểm, trên con đường kiến tạo đất nước và giữ nước, Đảng CS VN không khỏi tránh những sai lầm.. Nhưng dù sai lầm đến như thế nào thì cái chính là nền độc lập tự chủ của VN đã được tạo dựng. Còn xây dựng nó như thế nào thì VN đang dần bước lên những nấc thang mà tiền nhân vẫn mong đợi là xây dựng đất nước bằng mười bằng trăm thế kỷ 20 ? Bạn có mơ và tin điều đó không ? Tui rất tin điều đó, bởi đó là bước đi tất yếu mà chẳng có ai ngăn được bước đi lên của dân tộc VN chúng ta.! Vì vậy Hồ chí Minh luôn là ngọn cờ soi dọi mỗi bước ta đi lên phiá trước !

8) Họ chụp mũ chúng ta là CS, chúng ta chỉ cười thầm vì bạn bè lớn nhỏ của chúng ta cũng đang sinh hoạt trên diễn đàn này, và tất nhiên bạn bè của chúng ta biết chúng ta hơn ai hết. Họ chửi chúng ta là tay sai, nhưng họ không có thể đem ra một bằng chứng nào cả. Chúng ta, vì tình người, đề nghị họ đọc một số sách vỡ lòng để họ còn biết tôn giáo họ như thế nào, nhưng họ không dám đọc vì sợ "bức xúc" trong lòng. Thế thì còn căn bản nào để nói cho nhau nghe? Thế thì còn căn bản nào để trở lại một con người chân chánh? Tôi coi ông Karl Marx là một triết gia như bao nhiêu triết gia khác, nhưng họ không chịu ông Karl Marx là một triết gia, mà xem ông Karl Marx là một ông "kẹ" hạng nhất trên đời này. Triết lý của Karl Marx được dạy khấp nơi trên thế giới ngay cả bật trung học, nhưng họ quả quyết rằng chỉ có những quốc gia CS mới dạy triết lý của Karl Marx! Rất buồn, là cùng một giống người, nhưng mà hể có "thánh đạo" thì hung hãn như một con chó, chỉ biết ăn rồi sủa chứ chẳng biết lý luận gì cả, còn người không có "thánh đạo" thì hiền từ.

9) Theo ông Minh Võ thì cản trở cho công cuộc vận động dân chủ tại VN là do dân chúng vẫn còn hiểu sai về Hồ Chí Minh cho nên cần phải đánh đổ thần tượng Hồ mà bấy lâu nay đảng cọng sản xây dựng nên. Đây là một công việc vô bổ vì chẳng làm cho uy tín của ông Hồ suy giảm đối với người dân hai miền Nam Bắc. Gần một triệu người miền Bắc mà đa số là công giáo di cư, sai lầm của cải cách ruộng đất, vụ nhân văn giai phẩm, tết Mậu thân vẫn không ngăn cản được Việt cọng thực hiện được thống nhất đất nước. Chắc chắn rằng khi quân Mỹ đem một đội quân đông tới hơn 500000 người, chưa kể thêm những đội quân đồng minh thì những người như ông Minh Võ lúc ấy ở Sài gòn đều nghĩ rằng họ sẽ chiến thắng . Vậy thì sức mạnh của Viêt cọng là ở chỗ nào nếu không nói là lòng dân. Họ tin tưởng ông Hồ vì đơn giản ông Hồ và người dân có cùng chung một mục tiêu là độc lập dân tộc và thống nhất đất nước. Chẳng có bao nhiêu bộ đội đọc nhiều sách như ông Minh Võ để hiểu về lý thuyết này lịch sử nọ. Họ cũng chẳng chiến đấu vì một thần tượng, lý do là năm 1969 ông Hồ mất, Việt cọng vẫn tiếp tục sự nghiệp của dân tộc. Vì vậy phân tích nguyên nhân không phát triển của tình hình hiện là do VN còn tín nhiệm ông Hồ. Điều này không đúng. Cần phải nhận định cho đúng đâu là nguyện vọng của người dân hiện tại để có khẩu hiệu đấu tranh thích hợp, nếu không chỉ là Dã Tràng se cát...

10) Tôi, TCN, không còn trẻ, nhưng tôi rất mừng vì có những bạn trẻ đã đưa ra những nhận định chính xác và sáng suốt, dựa trên những sự kiện lịch sử chứ không dựa trên cảm tính phe phái. Đây là một niềm hi vọng cho đất nước Việt Nam. Để kết luận, tôi xin trích dẫn hai tài liệu. Trước hết là đoạn kết trong cuốn Ho Chi Minh của Jules Archer, trang 189-190:

“Cộng Sản hay không, ông Hồ Chí Minh cũng sẽ đi vào lịch sử như là một người Việt Nam yêu nước vĩ đại, là một trong những khuôn mặt phi thường của thế giới trong thế kỷ này. Không vị kỷ, can đảm, hiến thân cho nền độc lập của Việt Nam bằng mọi giá, ông ta đã vật nước Pháp phải khụyu đầu gối và chiến đấu chống Hoa Kỳ, một thế lực mạnh nhất thế giới, đưa đến một thế bí quân sự.

Sự cương quyết về một mục đích đã làm thay đổi giòng lịch sử, làm phân rẽ dư luận quần chúng ở Hoa Kỳ, bắt buộc một Tổng Thống Mỹ phải rút lui không tái cử cho nhiệm kỳ hai, khiến cho hàng triệu giới trẻ trên khắp thế giới kính ngưỡng ông ta ủng hộ cách mạng và xuống đường biểu tình ủng hộ ông ta, hô “Hồ, Hồ, Hồ Chí Minh”

Sự pha trộn duy nhất chủ nghĩa Mác-xít với chủ nghĩa gia trưởng, và chủ nghĩa quốc gia cao độ của ông Hồ đã thành công vĩ đại trong việc gây cảm hứng cho dân ông chịu đựng những sự hi sinh to lớn. Họ cũng còn kính yêu “Bác Hồ” vì nhân cách khiêm nhường và những cách cư xử từ ái của ông. Ông Hồ là sự thất vọng của những kẻ thù – Pháp, chế độ Sài gòn, và Mỹ - vì họ không thể nào làm cho người ta thù hận được ông. Ông ta được sự kính yêu của người trong Nam cũng như của những người ở ngoài Bắc.

Một trong những thành quả vĩ đại của ông là, cũng như Tito, ông đã đạt thành một “Cộng sản quốc gia”, giữ cho nước của ông ta ở ngoài những móng vuốt của cả Trung Hoa Đỏ và Liên Bang Sô Viết, trong khi ông ta khôn khéo đi hàng đôi để có được sự giúp đỡ mà nước ông cần đến. Khi ông ta mất, Việt Nam không phải là một nước chư hầu, mà là một nước độc lập đầy hãnh diện, cương quyết trên sự thiết lập cá tính quốc gia cho mọi người Việt Nam…

Khi những trang sách về cuộc đời của ông được cân nhắc, và hòa bình sau cùng tái lập trên đất nước thê thảm của Việt Nam, ông Hồ Chí Minh sẽ vĩnh viễn được các nông dân đã từng yêu kính và đứng sau lưng ông coi như là một người Việt Nam vĩ đại nhất trong của lịch sử của họ - người “Bác” kính ngưỡng của nước ông.”

(Communist or not, Ho Chi Minh will probably go down in history as a great Vietnamese patriot who was one of the extraordinary world figures of this century. Selfless, courageous, dedicated to Vietnamese independence at all costs, he wrestled France to her knees and fought the United States, the world’s mightiest power, to a military stalemate.

His single mind resolution changed the course of history, polarized public opinion in the United States, forced an American President to withdraw from seeking a second term, and radicalized millions of admiring youth around the world who demonstrated in his support chanting, “Ho, Ho, Ho Chi Minh”.

Ho’s unique mixture of Marxism, paternalism, and intense nationalism was enormously successful in inspiring tremendous sacrifice among his people. They also loved “Bac Ho” (Uncle Ho) for his winning personal modesty and gentle ways. Ho was the despair of all his enemies – the French, the Saigon regime, the Americans – because they were unable to muster hatred of him. He was held in as much affection in South Vietnam as among the people he led in the North.

Not the least of his great achievements was that he had, like Tito, achieve a “national Communism” which kept his country out of the grip of both Red China and the Soviet Union, while he skillfully played one off against the other to get the help his country needed. When he died, North Vietnam was no satellite but a proud, independent country, determined on nationhood for all Vietnamese…

When the books of his life are balanced, and peace is finally restored to the tragic land of Vietnam, Ho Chi Minh will always be known to the peasants who loved and followed him as the greatest Vietnamese in their history – the revere uncle of his country.)

Thứ đến là nhận định của một cựu quân nhân Mỹ, ông David Thomas, giáo sư nghệ thuật, đại học Boston, người đã tổ chức một cuộc triển lãm tranh ảnh Hồ Chí Minh ở Oakland, California, và đã bị một số người Việt Quốc Gia đến hò hét chống đối, văng tục và hành hung. Trước cuộc triển lãm, ông Thomas đã tổ chức một cuộc thảo luận với một số người Việt Nam. Ông phàn nàn: “Họ không cho tôi nói, văng tục, chửi hết câu này đến câu khác” (They kept hurling insult after insult. I didn’t get a chance to speak.) Nhưng ông ta cương quyết không nhượng bộ (But he stands behind his work unflinchingly). Ý định của ông tổ chức cuộc triển lãm là để cho quần chúng tìm hiểu về “con người đã làm thay đổi bộ mặt lịch sử thế giới.” (I want viewers to question, investigate this man who changed world history). Về ông Hồ Chí Minh, Thomas nói:

“Tôi kính trọng tính chính trực của ông ta. Có vẻ như là ông ta chỉ có một nhiệm vụ trong đời, và đó là giải phóng Việt Nam ra khỏi người Pháp, và ông ta đã thành công. Hãy suy nghĩ về điều đó, một quốc gia nhỏ bé như Việt Nam đã đánh bại một nước như nước Pháp và quay lại đánh bại chúng ta. Điều này chưa từng có trong lịch sử. Và tôi kinh ngạc bởi điều đó. Chúng ta phải ngưỡng mộ con người đã làm được như vậy.” (I respect his integrity,” Thomas adds. “He seemed to have one mission in his life, and that is to free Vietnam of the French, and he did it. Think about it, a little country like Vietnam beat a country like France and turned around and beat us. That has never been done in history. And I’m awed by that. You have to admire a man that did that.)

Hẳn nhiên Thomas đã nhìn sự việc trên bình diện to lớn của lịch sử hơn là những chuyện lặt vặt như ông Hồ có mấy vợ, hút bao nhiêu điếu thuốc lá một ngày, hay đã làm đơn xin học trường thuộc địa [Muốn học ở Pháp khi đó không xin học ở trường thuộc địa thì xin học ở trường nào, trường Nhà Dòng chăng. Nhưng có ai đọc kỹ câu này không: “Je désirerais devenir utile à la France vis à vis de mes compatriotes et pouvoir en même temps les faire profiter des bienfaits de l’instruction”. Vậy rõ ràng mục đích của ông Hồ là muốn tăng thêm học vấn để phục vụ đồng bào. Pháp dùng chính sách ngu dân để cai trị, nhưng ông Hồ lại muốn “trở thành hữu ích cho Pháp” với mục đích dùng kiến thức của mình phục vụ đồng bào. Đọc về ông Hồ, chúng ta ta thấy rõ đó là mục đích chính của ông. Nên nhớ, khi vừa nắm được chính quyền, Việt Minh đã phát động phong trào Truyền Bá Quốc Ngữ khắp nước. Vậy mà người ta lại thường viện vào cái đơn xin học này để chứng tỏ ông Hồ không phải là người yêu nước...]

Vài lời kết :

Tôi chưa từng có cơ hội đọc cuốn sách của Trần Dân Tiên, chỉ biết đến tên cuốn sách này qua bài ông Minh Võ đọc Trần Dân Tiên và viết trên Đàn Chim Việt: “Năm 1976, Đảng và Nhà Nước Cộng Sản Việt Nam công bố Trần Dân Tiên không phải người nào khác mà chỉ là bút hiệu của Hồ Chí Minh.” Ông Minh Võ cho rằng các tác giả viết về ông Hồ Chí Minh trong khoảng 1948-1975 đều bị lừa bịp bởi cuốn sách của Trần Dân Tiên về ông Hồ, và kể ra vài tác giả quen thuộc: Bernard Fall, Jean Lacouture, David Halberstam. Nhưng đọc mấy tác giả này, Bernard Fall: “Street Without Joy” (1964), “The Two Viet-Nams” (1967); Jean LaCouture: “Cinq Hommes Contre La France” (1961); Halberstam: “The Making Of A Quagmire” (1965) chúng ta thấy họ không hề nêu ra nguồn tài liệu nào về Ông Hồ là lấy từ cuốn sách của Trần Dân Tiên trong danh sách những tư liệu tham khảo. Và ngay cả trong hàng trăm cuốn sách trong đó có viết về ông Hồ sau năm 1975 cũng không có cuốn nào dùng tài liệu của Trần Dân Tiên.

Đúng như một bạn trẻ đã nhận định ở trên: “Thứ lý luận của Minh Võ chỉ có thể lừa được những tên chống cộng ngu dốt thôi” chúng ta hãy điểm qua vài “lý luận” của ông Minh Võ:

1) Nếu người dân có tôn sùng và gọi Hồ Chí Minh là Cha già dân tộc thì đó chỉ là kết quả của một nỗ lực dắt dẫn, uốn nắn thậm chí cưỡng bách nhiều năm.

Thật vậy sao? Cưỡng bách tôn sùng? Điều này chỉ có thể thấy trong lịch sử Công Giáo qua những Tòa Hình Án Xử Dị Giáo (Inquisition) và lịch sử truyền đạo qua chính sách thực dân. Nếu là cưỡng bách thì làm sao người dân có thể chiến thắng một cường quốc như Pháp rồi về sau lại đánh bại một cường quốc vào bậc nhất thế giới như Mỹ. France Fitzgerald đã viết: “Một bài học mà hầu như bất cứ vị lãnh đạo quốc gia nào cũng có thể học được từ ông Hồ Chí Minh: đó là, nếu đi vào một cuộc chiến lâu dài thì phải có sự ủng hộ của người dân. Sự ủng hộ này quan trọng hơn vũ khí, vì nếu người dân tin vào chính nghĩa của họ, họ có thể chấp nhận những sự hi sinh phi thường. Nếu họ không tin, mọi vũ khí trở thành vô ích.” [Vietnam Reconsidered: Lessons From A War, p. 302: There’s a lesson that almost any leader in any country might learn from Ho Chi Minh, and that is, if you embark on a war of any duration, you must have the support of your people. This support is more important than weapons, for if people believe their cause is just, they are capable of extraordinary sacrifices. If they do not, all your weapons are useless.]. Fitzgerald đã viết không sai. Nếu không tin tưởng vào chính nghĩa, người dân Việt Nam không thể chịu bao hi sinh để thắng nổi những thế lực quân sự có ưu thế tuyệt đối về quân sự như Pháp và Mỹ trong hai cuộc chiến ở Đông Dương. Ai đã mang lại chính nghĩa đó, nếu không phải là ông Hồ.

2) Minh Võ viết: “6 năm sau cái thời điểm mà Hồ Chí Minh tự diễn tả mình được toàn dân coi là Cha già dân tộc, thực tế đã nói lên một cách cụ thể thái độ của người dân đối với Hồ Chí Minh bằng sự trạng hơn một triệu người bỏ xóm làng, sản nghiệp ra đi, khi miền Bắc đặt dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh.”

Chẳng có ai, xin lỗi độc giả, viết bậy như Minh Võ. Minh Võ có biết là thành phần, không phải là hơn một triệu, mà là gần một triệu, của số người di cư từ Bắc vào Nam là như thế nào không. Hãy đọc Bernard Fall trong “The Two Viet-nams”, trang 154:

“Trong số 860000 người chạy vào Nam, 600000 người là tín đồ Công Giáo. Tuy 65% trên tổng số người Công giáo (ở ngoài Bắc) bỏ Bắc Việt Nam, hơn 99.5 % những người không Công Giáo ở lại.”

(Of the 860000 who fled South at this time, 600000 were Catholics. Although 65 percent of the total Catholic population left North Viet-Nam, more than 99.5 percent of the non-Catholics stayed put.)

Tại sao tỷ lệ những người Công Giáo chạy vào Nam lại cao như vậy? Fall giải thích:

“Những khẩu hiệu và truyền đơn tuyên truyền kêu gọi những tín đồ Công Giáo sùng tín là “Chúa đã đi vào Nam” và “Đức Mẹ Mary đã bỏ miền Bắc”; cho nên, toàn thể các xứ đạo – thí dụ như Bùi Chu và Phát Diệm – từ những ông giám mục cho đến hầu như ông linh mục cuối cùng trong làng và giáo dân đã gói ghém mọi đồ đạc [để đi theo Chúa và Đức Mẹ]”

(Propaganda slogans and leaflets appealed to the devout Catholics with such themes as “Christ has gone to the South” and the Virgin Mary has departed from the North”; and whole bishoprics – Bui Chu and Phat Diem, for example, packed up lock, stock, and barrel, from the bishops to almost the last village priest and faithful.)

Chúng ta cũng không nên quên rằng Bùi Chu, Phát Diệm là những khu “Công giáo tự trị”, đã nhận lãnh vũ khí của Pháp để chống Việt Minh. Vậy chính cái mặc cảm phản bội dân tộc cộng với trình độ quá thấp đến độ bị mấy tên xảo quyệt như Lansdale và “bề trên” tuyên truyền láo: “Chúa đã đi vào Nam” và “Đức Mẹ Mary đã bỏ miền Bắc”, một sự sự mê tín mà Linh Mục Trần Tam Tĩnh phải lắc đầu kêu trời trong cuốn “Thập Giá và Lưỡi Gươm” đã khiến cho số người Công Giáo trên di cư vào Nam. Phần còn lại là công chức, quân nhân trong quân đội liên hiệp Pháp. Còn tỷ lệ những người dân thường không đáng kể. Ông Minh Võ dốt sử nên không hiểu rằng cuộc di cư của số người Công Giáo này thực ra là có lợi cho chính quyền miền Bắc: có thêm ruộng đất để chia cho nông dân nghèo, và đỡ đi phần nào của mối lo về một số người thuộc một thế lực “đã phi dân tộc thì thể nào cũng phản bội dân tộc.” ở lại miền Bắc.

Viết bài này, tôi không có ý biện hộ hay bênh vực ông Hồ Chí Minh trước cuộc “thánh chiến chống Cộng” ở hải ngoại, mà chỉ viết theo sự hiểu biết của mình qua sự tổng hợp một số tài liệu. Lịch sử đã rõ ràng, không ai cần đến tôi làm việc này. Nhưng thấy trình độ và những thủ đoạn hạ bệ ông Hồ Minh Võ cũng như của một số đồng bọn ở đây thấp kém và ấu trĩ quá, mà lại cứ thích viết bậy, có những hành động làm nhục lây cả những người Quốc Gia như tôi, nên tôi buộc lòng phải viết lên vài điều để cảnh tỉnh những người muốn dùng những thủ đoạn xuyên tạc lịch sử cho những mục đích chính trị của mình. Viết về ông Hồ, chúng ta không thể chỉ kể ra những chi tiết lặt vặt trong đời tư của ông mà phải nhìn vấn đề trên bình diện rộng hơn. Ít nhất là phải phân tích những hoạt động của ông ở ngoại quốc trước khi ông biết đến chủ thuyết Mác-Lênin, ở Hội Nghị Hòa Bình Versailles, ở các Hội Nghị Quốc Tế, phải đọc những bài ông Hồ Chí Minh, dưới tên Nguyễn Ái Quốc, viết trên những tờ L’Humanité, La Vie Ouvrière, Le Paria v..v.., nội dung ra sao, ông đã thành lập và tổ chức Việt Minh từ bao giờ, để làm gì, đã có những hoạt động chống Nhật và Pháp như thế nào, và sau cùng, đường lối chính trị của ông sau 1945 cho đến khi ông qua đời v..v.. thì mới có thể đánh giá đúng ông Hồ được.

Vài lời cuối với ông Minh Võ và những người có ý định phá bỏ “thần tượng Hồ Chí Minh” như ông Minh Võ: Cái di sản mà ông Hồ Chí Minh để lại cho người dân Việt Nam là một nước Việt Nam độc lập và thống nhất. Lẽ dĩ nhiên đây không phải là công của mình ông Hồ mà là của toàn dân, ít ra là của đại đa số người Việt đã coi ông Hồ như là biểu tượng truyền thống yêu nước của người Việt Nam, do đó đã không ngại mọi hi sinh để đạt thành. Nhưng quan trọng hơn là thế giới đã biết nhiều hơn về Việt Nam và không còn dám coi thường Việt Nam tuy Việt Nam vẫn còn là một nước tương đối nghèo và kém phát triển. Xin đừng có coi thường độc giả. Đừng có hi vọng họ tin tất cả những điều mình viết. Ngay cả giới trẻ ngày nay cũng sáng suốt lắm. Họ không để cho bị bịp bởi những luận điệu vô căn cứ, thuần túy viết theo thiên kiến và cảm tính đâu. Dù thế nào đi chăng nữa thì đối với thế giới và đại đa số người dân Việt Nam, đúng như Jules Archer đã viết:

“Khi những trang sách về cuộc đời của ông được cân nhắc, và hòa bình sau cùng tái lập trên đất nước thê thảm của Việt Nam, ông Hồ Chí Minh sẽ vĩnh viễn được các nông dân đã từng yêu kính và đứng sau lưng ông, coi ông như là một người Việt Nam vĩ đại nhất trong của lịch sử của họ - người “Bác” kính ngưỡng của nước ông.”

“Cộng Sản hay không, ông Hồ Chí Minh cũng sẽ đi vào lịch sử như là một người Việt Nam yêu nước vĩ đại, là một trong những khuôn mặt phi thường của thế giới trong thế kỷ này.”



TCN.


30 tháng 4: Nhìn Lại Cuộc Chiến Việt Nam (Trần Chung Ngọc)
Bang Giao "Bắc Kinh-Vatican" (?) Một Kinh Nghiệm Quý Giá Cho Việt Nam (Trần Chung Ngọc)
Chống Cộng Theo Gương David (Trần Chung Ngọc)
Chủ Nghĩa Khủng Bố và Diệt Chủng (Trần Chung Ngọc)
Cuốn Triumph Forsaken của Mark Moyar
Dư Luận Quần Chúng
Linh tinh Thời sự, Viết mà chơi
Ma Quân Quấy Nhiễu Sư Tăng - Nhưng Thất Bại (Trần Chung Ngọc)
MỘT CHUYẾN VỀ VIỆT NAM - 2
MỘT CHUYẾN VỀ VIỆT NAM - 3
MỘT CHUYẾN VỀ VIỆT NAM -1
Một trong ba thứ (Trần Chung Ngọc)
NED và Lê Quốc Quân
Nguyễn Cao Kỳ và Việt Weekly
NGÀY 30/4/1975 (Trần Chung Ngọc)
Ngáp Lớn Trong Tòa Mỹ Bị Tù - Còn Nguyễn Văn Lý ? (Trần Chung Ngọc)
Nhân chuyện ông Triết đi Mỹ
Nhân Quyền của Mỹ & Dự Luật H.R. 3096 (Trần Chung Ngọc)
Những Người Máy Chống Cộng (Trần Chung Ngọc)
Noam Chomsky & Robert McNamara (Trần Chung Ngọc)
Phiếm Luận Về "Cộng Sản" Hải Ngoại (Trần Chung Ngọc)
Phải Chăng Chiếc Khăn Quàng Là Giải Pháp Cho Tòa Khâm Sứ? (Trần Chung Ngọc)
Thắc Mắc Cần Được Giải Đáp: 3. Về Chiến Tranh Việt Nam (Trần Chung Ngọc)
Thắc Mắc Cần Được Giải Đáp: 3. Về Lá Cờ Vàng (Trần Chung Ngọc)
Thử Phân Tích Vài Đoạn Trong Bài Diễn Văn Nhậm Chức (Trần Chung Ngọc)
Tại Sao Lại Việt Nam ? (Trần Chung Ngọc)
Tản Mạn về Chống Cộng (Trần Chung Ngọc)
Tản Mạn Xung Quanh Cuộc Chiến Ở Việt Nam (Trần Chung Ngọc)
VAALA - Nghệ Thuật Lên Tiếng [Nhưng Bị Bóp Nghẹt] (Trần Chung Ngọc)
Vài Nhận Định Khi Đọc Lời Phát Biểu Của Ông Ngô Quang Kiệt (Trần Chung Ngọc)
Vài Ý Kiến Về Vấn Đề Bang Giao Với Vatican (Trần Chung Ngọc)
Vấn Đề Nhân Quyền Trước Luật Pháp Quốc Gia (Phúc Lâm sưu tầm)
ĐÒI ĐẤT ! ĐẤT NÀO ? ĐẤT CỦA AI ? (Trần Chung Ngọc)
Đôi Hàng Về Chuyện Cờ Vàng Cờ Đỏ (Trần Chung Ngọc)
Đôi Điều Chung Quanh Cuốn Le Livre Noir (Trần Chung Ngọc)
ĐĐ Thích Nhật Từ và Xóm Đạo (Trần Chung Ngọc)
“Religulous” Điểm Phim Cuối Tuần (Trần Chung Ngọc)
“Sư Chính Trị” của MARK MOYAR
lmhuule wrote on Nov 20, '09
ĐÒI ĐẤT ! ĐẤT NÀO ? ĐẤT CỦA AI ?

Trần Chung Ngọc
Gửi bài này cho bạn bè 23 tháng 1, 2008



Xin hãy dừng lại trước khi quá muộn! Đó là đầu đề bài viết của Lê Tuấn Huy tôi đọc được trên trang nhà phattuvietnam.org xung quanh vụ Ca-Tô Giáo Rô-ma ở Việt Nam xách động giáo dân thắp nến và cầu nguyện ngoài đường phố để đòi lại đất của Tòa Khâm Sứ và hi vọng cái trò hề này sẽ như vết dầu loang, lan sang các cơ sở khác của Ca-Tô Giáo Rô-ma ở Việt Nam. Có một điều không ai có thể phủ nhận là nếu những cầu nguyện của Ca-Tô Giáo mà được đáp ứng thì hơn 6 tỷ người trên thế giới ngày nay đã là tín đồ Ca-Tô Giáo Rô-ma cả rồi. Nhưng mà giáo dân cầu nguyện cái gì, cầu với ai. Nếu tin rằng mình có đầy đủ lý lẽ, có cơ sở Pháp lý thì Nhà Nước làm sao mà từ chối, việc gì phải cầu nguyện. Rõ ràng là việc xúi giục giáo dân ngu ngơ đi ngồi đường thắp nến cầu nguyện là một hình thức biểu tình làm loạn nấp sau chiêu bài tự do tín ngưỡng hay tự do tôn giáo, dù là một tôn giáo đã gây tác hại cho nhân loại không ít. Chuẩn Thánh Teresa ở Ấn Độ suốt ngày cầu nguyện nhưng rút cục cũng phải thú nhận là chẳng thấy gì. Tôi hi vọng Nhà Nước và các Phật tử có lòng yêu nước hãy cung cấp bánh mì, nước uống và cầu tiêu di động đến cho giáo dân sử dụng trong khi cầu nguyện, hi vọng họ sẽ kéo dài được vĩnh viễn, ít ra là cũng đến tết Congo. Tôi xin tình nguyện góp tiền mua 500 ổ bánh mì mà ngày xưa Chúa Giê-su đã hóa phép biến thành từ một ổ bánh mì để cho giáo dân của ông Ngô Quang Kiệt có thêm chút hơi sức mà tiếp tục cầu nguyện ở ngoài đường. Nếu cần cũng nên mua thêm sữa và bình bú (biberon) để cho những em nhỏ có thêm sức cầu nguyện.

Lẽ dĩ nhiên ý của Lê Tuấn Huy không phải là khuyên giáo hội Ca-Tô Rô-ma ở Việt Nam hãy dừng lại trước khi quá muộn, mà là khuyên mọi người phi Ca-Tô hãy dừng lại, đừng có tiếp tục chống đối việc làm chính đáng, hợp pháp v..v.. của giáo hội Ca-Tô Rô-ma ở Việt Nam. Vậy thì chúng ta phải tìm hiểu vấn đề từ đầu xem thế nào là những hành động chính đáng và hợp pháp của giáo hội Ca-Tô Rô-ma ở Việt Nam. Nhưng trước khi đi vào vấn đề tìm hiểu này, tôi có một đề nghị cùng ông Ngô Quang Kiệt, một đề nghị rất xây dựng, và miễn phí, đó là, song song với chiến dịch thắp nến cầu nguyện ở Việt Nam, ông Ngô Quang Kiệt sẽ có công lớn với giáo hội hoàn vũ nếu ông thuyết phục được giáo hoàng Benedict XVI tổ chức giáo dân trên khắp thế giới thắp nến và cầu nguyện để đòi lại những lãnh thổ rộng lớn của giáo hoàng [Papal States] mà năm 1870, quân đội của nhà ái quốc Ý Garibaldi đã tiến vào thành Rô-ma và tước đoạt những lãnh thổ lớn lao dưới quyền thống trị của Giáo hoàng và thu hẹp địa bàn của Giáo hoàng còn lại mảnh đất ở Vatican ngày nay, rộng chỉ bằng 2 sân chơi football. Đó là những lãnh thổ to lớn hơn nhiều cần đòi để vinh danh Thiên Chúa trên trời. Tôi sẽ ôn lại một chút lịch sử về các Papal States này trong một phần sau. Đây là một bài học lịch sử mà ông Lê Tuấn Huy cần biết để thấy rằng những lý luận của ông trong bài “Xin hãy dừng lại trước khi quá muộn!” về lịch sử và hiện thực nó ngớ ngẩn đến mức nào. Tôi sẽ không mất thì giờ để đi vào việc phê bình bài của Lê Tuấn Huy. Đã có vài người như Trần Bình Nam và Trần Minh Khoa làm việc đó rồi. Bây giờ chúng ta hãy đi vào sự cố giáo dân, già, trẻ, lớn, bé, thắp nến cầu nguyện ở ngoài đường Việt Nam.

Nổ ra vụ đòi đất tòa Khâm Sứ là do Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt xách động giáo dân ngu ngơ cuồng tín làm càn bất chấp pháp luật. Ca-Tô Giáo Rô-ma ở Việt Nam và ở Bolsa cho hành động thắp nến cầu nguyện ngoài đường làm cản trở lưu thông công cộng, nhiễu loạn dân tình quanh vùng là chính đáng, là hợp với ý Chúa mà nắm xương khô đang nằm trong một tiểu quách ở Jerusalem. Ông Thiên Lôi có viết một bài vô cùng đặc sắc với đầu đề “Phải Cám Ơn Tổng Kiệt Thôi” trong đó đưa ra nguyên nhân của vụ “chộn rộn” như sau:

Gần đây tui có nghe chuyện chộn rộn mới nhất trong nước do mấy ông cha nhà thờ Ca-tô phát động. Điều này cho thấy chỗ nào có đám âm binh này là chỗ đó không yên…

Hình như khởi đầu là qua bài giảng thánh lễ mùa Giáng Sinh 2007 ở nhà thờ Chính tòa Hà Nội do me-xừ Ngô Quang Kiệt, TGM địa phận Hà Nội, ta tạm gọi là Tổng Kiệt, cho gọn… Tổng Kiệt nêu ra mấy điều đã được các bộ loa tuyên truyền Ca-tô ở hải ngọai đua nhau tìm hiểu, phân tích, học tập cứ như tông huấn của Giáo Hòang. Sau đó Tổng Kiệt liền xách động chủ chăn và con chiên thuộc giáo xứ Thái Hà tụ họp hằng đêm thắp nến cầu nguyện gây náo động phá rối trật tự an sinh quanh khu bất động sản số 42 Phố Nhà Chung, mà người dân quen gọi là đất Khâm sứ, vốn do Tây thực dân cướp đọat từ ngôi cổ tự Báo Thiên của Phật giáo, để yêu cầu chính quyền trả lại đất cho giáo phận.

Nhưng tại sao “Sét Trí Tuệ Của Nhà Trời” không đánh xuống đầu ông Kiệt để mở mang đầu óc của ông ấy mà lại phải cám ơn ông Tổng Kiệt? Tôi xin phép theo kiểu “tiền trảm hậu tấu” để ghi lại sau đây đoạn Kết của Thiên Lôi về lý do phải cám ơn ông Kiệt, một đoạn mà tôi cho rằng ông Thiên Lôi không nên giữ làm của riêng mà phải phân phát cho thiên hạ cùng hưởng, và xin phép Thiên Lôi được “hai lai” những đoạn cần phải high light (hay Bold)..

Thay Lời Kết: [Của Thiên Lôi]

Sau khi tìm hiểu “thông điệp của Tổng Kiệt”; tui phải cám ơn ông ta mới được, vì nhờ cái bốc đồng của ổng mà người dân Việt trong và ngòai nước thấy rõ thêm nhiều điều:

1) Cộng đồng dân chúa Ca-tô này cực kỳ ích kỷ. Chỉ biết lợi mình mà quên nổi an nguy của đất nước; theo lời xúi bậy của Tổng Kiệt và bọn lưu vong mà nhào zô làm một chuyện trời ơi đất hởi không biết ngượng, đòi một miếng hay trăm miếng đất trên đất Việt do thực dân Pháp ăn cướp trao cho mà không cần tìm hiểu lịch sử. Làm như đất ấy là do Vatican cấp cho Gíao Hội mình không bằng.

2) Cộng đồng Ca-tô này càng ngày càng chứng tỏ đầu óc tôi tớ ngọai bang. Cho dù Nhà nước có áp dụng chính sách kêu gọi thuyết phục gì, và nhân dân có cố gắng hòa hợp hòa giải cách gì đi chăng nữa, họ vẫn ‘ngựa bị bịt mắt quen đường cũ, không cãi tạo nỗi’ nên mọi đối thọai biện chứng ‘sống chung hòa bình’ đều trở thành vô ích. Họ muốn gây rối ren để tạo thời cơ rước bọn bạch quỉ trở lại xâm lăng đất nước. Đầu óc họ vẫn mang trong người hình ảnh ‘Thánh kinh và cây gươm’ của bọn thực dân truyền lại nên khó mà gột rữa được. Bao nhiêu cơ sở ăn cướp biến thành đất nhà thờ nằm ở các vị trí then chốt trong các thành phố lớn ở Việt Nam thế mà vẫn còn chưa thỏa lòng tham.

3) Khi Tổng Kiệt kêu gào đòi đất vốn không phải của mình, và nhiều thành phần dân chúa nêu ra lịch sử kiểu ăn theo, thì chẳng khác nào kêu bọn thực dân Pháp trở lại ‘thắp nến cầu nguyện đòi đất’ Đông Dương mà chúng tháo chạy không kịp ... mang theo.

4) Nếu Tổng Kiệt đòi được Nhà nước Việt Nam giao trả đất Khâm sứ thì dần dần ở các nơi khác đám dân chúa Ca-tô sẽ tiếp tục ‘thắp nến cầu nguyện đòi lại đất ăn cướp’. Nếu tình hình này kéo dài thì chắc chắn sẽ đưa đến những cuộc va chạm bạo lực với các cộng đồng phi-Catô trong nước, mà hậu quả không thể lường trước được. Chắc chắn rằng Nhà Nước Việt Nam không muốn như thế.

5) Lạ một điều rằng, bấy lâu nay từ 1954 đến 1975 ở ngòai bắc - sau khi gần một triệu dân chúa theo sự xúi giục lừa gạt của bọn tây dương và Vatican rằng ‘đức Mẹ đã di cư vào Nam’, bồng bế nhau chạy xuống tàu thuyền ... theo kịp vào Nam - thì chẳng nghe tên chăn chiên nào lên tiếng đòi đất. Bố bảo cũng chẳng dám. Nay Việt Nam gia nhập cộng đồng quốc tế, đám dân chúa này tưởng đã đến lúc Nhà nước ‘bị yếu đi’ bởi những chính sách cỡi mở ‘tự do tôn giáo’ dưới áp lực của ngọai bang nên ... thử một phát xem sao theo lệnh của quan thầy.

Tui nói chắc như bắp rằng nếu may mắn Tổng Kiệt thành công trong vụ này thì hoặc là danh tiếng của ông Tổng sẽ được ca tụng như là một Lech Wałęsa Việt Nam và ngôi vị Chủ tịch HĐ GM/ GHCGVN sẽ nhanh chóng lọt vào tầm tay. Nhưng nếu thất bại thì sẽ theo bước chân của Nguyễn Văn Lý, không những bị GHCG trong nước kết án là nóng vội hấp tấp làm hư đại sự, mà còn bị Vatican có thể cho là tử đạo hay rối đạo và bị lọai trừ nhanh chóng.

6) Còn thêm một nhận xét vui vui khác. Qua các sự kiện này thì bà con chắc đã nhìn thấy một việc mà theo tui, đã có một sự “đồng thanh tương ứng” nào đó giữa cuộc đảo chánh thành phần lãnh đạo GHPGVNTN/HN do nhóm Võ Văn Ái phát động và ‘cuộc thắp nến xuống đường cầu nguyện’ hiện nay của đám Ca-tô trong nước, sau những thất bại trong việc xúi giục quần chúng dân oan khiếu kiện và thah niên sinh viên xuống đường nhân vụ Trường Sa.

Bà con hãy nghĩ xem, khi nhóm Võ Văn Ái muốn lấy điểm với ông chủ ngọai bang để tiếp tục hưỡng lương thì phải bắt tay với đám Ca-tô trong và ngòai nước phát động quậy phá làm suy yếu chính quyền Việt nam. Khi Võ Văn Ái biết rằng uy tín của mình không còn như xưa sau bao vụ lừa đão, và không thể thuyết phục được ban lãnh đạo cũ của GHPGVNTN/HN, bèn làm đảo chánh bằng cách “độc quyền phát hành” các Giáo Chỉ số 9 của Đức Tăng Thống Thích Huyền Quang ký ngày 8/9/2007; và Thông Bạch Hướng Dẫn thực thi Giáo Chỉ của Hòa Thượng Viện Trưởng Viện Hóa Đạo Thích Quảng Độ ra ngày 25/9/2007 để "Giải tán các Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Hoa Kỳ và các châu lục" để "thiết lập một Văn Phòng II Viện Hóa Đạo mới và các GHTN mới". Cú đảo chánh nầy là để dễ bề tiếp tục họat đầu thao túng nội bộ, và phối hợp dễ dàng với ngọai đạo và ngoại bang.

Nhưng ‘thiên bất dung gian’, nên quí vị cao tăng trong VHĐ cũ đã kịp thời phản ứng và vạch bộ mặt gian manh của con nội trùng Võ Văn Ái, chuyên làm tay sai cho ngọai bang và ngọai đạo nên các mưu toan ám muội của đám phản động lưu vong tan tành mây khói. Cây kim giấu trong túi lâu ngày cũng bị lòi ra mà thôi! Bên Ca-tô đã lỡ ‘lên kế họach’ thì không dừng được nữa, phải đành ra tay thôi, nên thiếu sự a dua của PGTN. Đã đến lúc Phật giáo đồ hải ngọai đủ mạnh dạn, thực hành ‘hạnh vô úy’ đứng lên tõ rõ lập trường vì Đạo Pháp và Dân tộc của mình, chứ không còn bị khống chế mãi bởi bọn côn đồ xóm đạo nhân danh chống cộng mù quáng nữa.

Cũng mừng là đồng bào Phật tử trong nước cũng không còn e ngại vì sợ bị Nhà nước buộc tội là “chia rẽ tôn giáo” như trước, khi lên tiếng đả kích những trò mượn danh tín ngưỡng mà lôi kéo giáo dân vào việc tranh giành của cãi như thế này. Rõ là ‘Cây muốn lặng mà gió chẳng muốn ngừng’.

7) Cứ nhìn vào cái lộ trình kiểu mẫu của đám dân chúa Việt từ mấy thập niên nay kêu gào chống cộng theo lệnh của tên GH hung hãn Pius XII; nếu bắt dân Việt phải chọn lựa giữa chế độ “tự do dân chủ” kiểu Ca-tô vong bản và Nhà nước cầm quyền hiện nay thì chắc chắn ai cũng ủng hộ Nhà nước một cách triệt để. Riêng tui, cũng vì sự lừa mị dối gian của bọn Ca-tô mà một số anh em, bạn bè và bà con tui ở miền Nam đã phải hy sinh một cách oan uổng trong cuộc chiến Việt Nam bẩn thỉu và vô chính nghĩa nhân danh (Vatican và Mỹ) chống cộng. Tui chẳng muốn thấy dân mình lại phải đi vào con đường cũ nữa.

8) Tuy những điều tui trình bày ra đây có thể hơi khó lọt tai của một số dân Ca-tô cuồng tín; nhưng tui tin rằng các bộ máy công quyền của Nhà Nước Việt nam còn biết nhiều bí mật động trời hơn nữa. Mong là Nhà Nước Việt Nam đã có nhiều khôn khéo chính trị từ trước đến nay với “khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng” thì ba cái lẻ tẻ cắc ké như vụ Tổng Kiệt chỉ là trò chơi trẻ con thôi. Chúc Nhà Nước Việt Nam sớm dẹp yên bọn giặc cỏ để dồn hết trí lực cho việc đối đầu với tham nhũng và ngọai xâm.

Qua đoạn kết của Thiên Lôi ở trên, tôi có thể thêm vào điều gì nữa? Thật là khó quá đi. Nhưng đã chót viết rồi mà không thêm điều gì thì rất có thể có người lên án tôi là chỉ “mượn đầu heo nấu cháo” tuy rằng tôi đã có xin phép hẳn hoi. Riêng tôi thì tôi không cám ơn ông Tổng Kiệt vì cái “bốc đồng” của ông ta như Thiên Lôi, mà cám ơn ông ta vì những “xuẩn động” của ông ta. Vì xách động giáo dân thắp nến cầu nguyện để đòi lại đất tòa Khâm Sứ, vốn có một nguồn gốc ô nhục, là một hành động vô cùng vụng về nếu không muốn nói là ngu xuẩn. Điều này đối với tôi không lạ, vì đọc những gì người Ca-Tô Việt Nam viết, từ các bậc chăn chiên đến các vị được gọi là trí thức, cho đến các con chiên bình thường, có vẻ như đầu óc của tất cả hầu như “không đội trời chung với sự hiểu biết, sự lương thiện trí thức, và trí tuệ”. Thật vậy, tôi xin phân tích vấn đề như sau.

Trước hết là hành động xách động của ông Kiệt đã gây nên một làn sóng phản ứng trên khắp thế giới. Có nhiều bài góp ý kiến về vấn đề này, không phải là từ Bến Hải, mà từ Hà Nội đến Cà Mau, sang đến Mỹ, Úc. Mới đầu chúng ta có thể đọc một số ý kiến, đề nghị trên giaodiemonline.com, sachhiem.net ở ngoại quốc, nhưng sau đó thì có nhiều Phật tử Việt Nam nhập cuộc trên trang nhà phattuvietnam.org ở trong nước. Tuyệt đại đa số các ý kiến cho rằng Ca-Tô Giáo Rô-ma ở Việt Nam không có tư cách gì để đòi lại tòa Khâm Sứ mà lịch sử đã ghi rõ là đất của Chùa Báo Thiên do thực dân Pháp cưỡng chiếm, rồi phá bỏ Chùa để xây Nhà thờ lớn Hà Nội và tòa Khâm Sứ Hà Nội là một phần của Nhà thờ lớn Hà Nội, nghĩa là nằm trong khuôn viên đất vốn của Phật Giáo bị giặc ngoại xâm cướp mất trong hoàn cảnh nước mất nhà tan c ủa một dân tộc bị đô hộ. Ca-tô Giáo Rô-ma ở Việt Nam có vinh hạnh không khi được thực dân Pháp ban cho đất ăn cướp này để làm tổng hành dinh gián điệp và truyền đạo, phản bội nhân dân? [Tòa Khâm Sứ] Ca-Tô Giáo Rô-ma có cảm thấy hãnh diện không khi mang tượng đức mẹ đến nơi đất ăn cướp này, phải chăng để diễn lại cái màn “bà vào bà đánh lung tung” như ở Chùa Lá Vàng khi xưa? Có một con chiên viết ngu đến độ cho rằng, khi xây nhà thờ lớn Hà Nội, Việt Nam không nói gì, cho nên cơ sở đó là thuộc quyền sở hữu hợp pháp của “Công Giáo”. Nước đã mất, Vua quan là bù nhìn, Việt Nam có thể nói được gì? Một kẻ cướp có vũ trang đến nhà anh ăn cướp đồ để ban cho đầy tớ tay sai phản bội chủ nhà, chủ nhà nói được gì khi đó? Cái gì của César trả cho César, cái gì của Thiên Chúa trả cho Thiên Chúa.?? Nhưng Chúa nói bậy, đồng tiền của dân gian tiêu dùng đâu có phải là của César, César chỉ có cái hình trên đó, và Chúa thì có cái gì? Khi chết chỉ có cái khố rách mang trên mình đeo toòng ten trên cây thập giá. Vả chăng Chúa đã nói thế giới này không phải của Ta. Nhà nước có ăn cướp Thiên đường của Chúa đâu mà trả cho Chúa?

Có nhiều ý kiến khác nhau, tuy nhiên đều xoay quanh vài vấn đề then chốt: Đất tòa Khâm Sứ có phải là của Giáo hội Ca-tô Rô-ma ở Việt Nam không, giáo dân Ca-Tô Việt Nam dựa trên cái gì để mà đòi lại đất đó, và hậu quả hành động xách động giáo dân của ông Tổng Kiệt là gì? Tổng kết ý kiến của tuyệt đại đa số trên Internet tôi có thể tóm tắt kết quả để làm sáng tỏ ba vấn đề trên như sau:

Thứ nhất, như trên đã nói, đất Tòa Khâm Sứ vốn là đất của Chùa Báo Thiên bị thực dân Pháp dùng cường quyền cưỡng chiếm để ban phát đền công giúp đỡ cho giáo dân Việt Nam đồng thời theo sách lược mở mang nước Chúa. Giám mục Puginier đã từng phát biểu: “Không có giáo dân Việt Nam hỗ trợ thì Pháp như những con cua bị bẻ gãy hết càng, không có cách nào có thể xâm chiếm nổi Việt Nam”

Thứ nhì, giáo dân Việt Nam thuộc loại con chiên và con nít đã thuần thục với lời dạy “hãy quên mình trong vâng phục” cho nên bề trên bảo sao cứ thế mà theo, không hề suy nghĩ, do đó đã bị Tổng Kiệt xách động để đi làm những việc ngu ngơ vô trí. Tổng Kiệt đã đi một bước sai lầm khi kéo cả con nít đi cầu nguyện, chứng tỏ đó là một xách động chính trị chứ không phải là vấn đề tôn giáo. Từ những sự kiện lịch sử về nguồn gốc Tòa Khâm Sứ, hiển nhiên là Ca-Tô Giáo Rô-ma không có lý do nào chính đáng để đòi lại tòa Khâm Sứ, và những người phi Ca-Tô thấy rõ Ca-Tô Giáo Rô-ma ở Việt Nam vẫn tiếp tục nuôi dưỡng giáo dân trong ngục tù tâm linh với sách lược “ngu dân dễ lợi dụng”. Đối với đa số người phi Ca-Tô thì cuộc xách động giáo dân thắp nến cầu nguyện để đòi lại tòa Khâm sứ là một hành động phi lý càn rỡ bất chấp những sự thực lịch sử.

Và thứ ba, đây là những kết quả nguy hại của những bước đi xuẩn động của mình mà ông Tổng Kiệt, vì trong người và đầu óc có cái “gen” của Thiên Chúa, nên không nghĩ ra:

- Tuyệt đại đa số người dân Việt Nam phi-Ca-Tô, vì bản tính hiền hòa và vì tình đồng loại, đã muốn quên đi quá khứ nhơ nhớp của giáo hội Ca-Tô Rô-ma tại Việt Nam, một giáo hội đã nổi tiếng là hễ phi dân tộc thì thể nào cũng phản bội dân tộc, nhưng nay vì vụ này ông Tổng Kiệt đã đánh thức lòng yêu nước, yêu dân tộc của người dân Việt phi Ca-Tô, và làm cho họ nhớ lại bản chất thực sự của Ca-Tô Giáo Rô-ma ở Việt Nam.

- Vì vụ này, lịch sử nhơ nhuốc của Ca-Tô Giáo Rô-ma ở Việt Nam sẽ được phổ biến rộng rãi trên đất nước với những tài liệu bất khả phủ bác. Trong tình thế này, người dân sẽ không còn e dè vì sợ mang tiếng là chia rẽ tôn giáo nữa, nên những sự thật lịch sử về Ca Tô Giáo Rô-ma hoàn vũ cũng như Ca-Tô Giáo Rô-ma ở Việt Nam sẽ được phơi bày và Giáo hội Ca Tô ở Việt Nam sẽ không có cách nào còn có thể ngăn chận việc truyền bá những sự thật này nữa. Một thí dụ điển hình là bài Vatican cướp Chùa, chiếm đất để xây Nhà thờ của Giáo sư Nguyễn Mạnh Quang mới vừa xuất hiện trên vài trang nhà.

- Phản ứng của Phật tử không phải vì muốn tranh giành đất đai nhưng việc làm vô ý thức của ông Tổng Kiệt đã đụng đến tinh thần dân tộc và yêu nước của người dân Việt phi Ca-Tô. Nếu ông Kiệt nghĩ rằng người Phật tử phải từ bi hỉ xả để cho Ca-Tô Giáo Rô-ma ở Việt Nam muốn làm gì thì làm thì đó là một điều hết sức sai lầm. Tinh thần yêu nước dính liền với tinh thần Phật Giáo và luôn luôn được Phật tử đặt trước Phật Giáo. Các ông xuyên tạc, nói xấu, hạ thấp Phật Giáo thì Phật tử có thể làm ngơ chẳng thèm để ý đến, nhưng nếu phạm phải điều tối kỵ là tung ra những hoạt động phi dân tộc mà hành động đòi đất là một thì người dân sẽ phản ứng. Phản ứng như thế nào, không ai biết được, nhưng dù sao cũng chẳng có lợi gì cho Ca-Tô Giáo Rô-ma.

- Các ông tưởng rằng với áp lực trên đầu môi chót lưỡi của Mỹ, hay của Vatican, hay vì hối lộ mà Nhà Nước sẽ phải bỏ rơi hơn 90% dân Việt Nam phi Ca-Tô để quy hàng 7% giáo dân Ca-Tô ở Việt Nam thì đó là một điều không tưởng, nhất là trong tình trạng suy thoái hiện nay của Ca-Tô Giáo trên khắp thế giới. Thời hoàng kim của Ca-Tô Giáo Rô Ma đã qua rồi.

Vậy tôi cho là Giáo hội Ca-Tô Rô-ma ở Việt Nam hãy nhìn xa một chút và hãy nghe theo lời khuyên của Lê Tuấn Huy: Xin hãy dừng lại trước khi quá muộn! dù rằng Lê Tuấn Huy viết câu trên không phải là để khuyên quý vị. Nhưng đó chính là lời khuyên chính xác thiết thực nhất.

Đọc những thông tin về vụ Tổng Kiệt xách động giáo dân đòi đất ăn cướp của Chùa tôi lại liên tưởng đến những lãnh thổ rộng lớn thuộc quyền thống trị của các giáo hoàng trong hơn 1000 năm ở Âu Châu, từ 756 đến 1870. Và nay những lãnh thổ đó còn lại cái gì? Một mảnh đất rộng bằng hai sân chơi foot ball. Đây là một sự kiện lịch sử về những lãnh thổ được gọi là “Papal States”. Có thể đây là một bài học cho Giáo hội Ca-Tô Rô-ma ở Việt Nam, một giáo hội hoàn toàn lệ thuộc Vatican mà không hề biết đến bộ mặt thực của định chế tôn giáo này. [Xin đọc những cuốn “The Vatican’s Mafia”; “Vatican Exposed: Money, Murder, and the Mafia” v..v.. của Đức Ông (Monsignor) Rafael Rodríguez Guillén.]

Chi tiết về nhưng “Papal Sates” quý độc giả có thể đọc trong phần cuối của cuốn “Sự Suy Sụp Của Giáo Hội Ca-Tô Rô Ma” [The Decline and Fall of the Roman Church, Bantam Books, New York] của Malichi Martin, giáo sư dòng Tên tại Viện Nghiên Cứu Thánh Kinh của Giáo hoàng, tiến sĩ về khoa ngôn ngữ Do Thái, Khảo Cổ và Lịch Sử Đông Phương, đã từng phục vụ ở Vatican dưới triều Giáo hoàng John XXIII. Ở đây tôi chỉ tóm tắt rất sơ lược vài nét chính lượm lặt trên Internet để đặt song song với chuyện đòi đất ở Việt Nam.

Tuy rằng các giáo hoàng đã chiếm cứ được nhiều đất đai trong nước Ý kể từ thế kỷ 4 và có một số quyền hành chính trị trong những vùng đất đó, nhưng chỉ làm chủ thực sự một số lãnh thổ mà Pippin, Vua của dân Franks, nhường cho Giáo hội một số lãnh thổ chinh phục được từ dân Lombards vào năm 756. Trong những miền đất này, sự thu nhập không được coi là tài sản của nhân dân mà được dùng một phần cho các công tác từ thiện, còn thì để cho giới giáo sĩ làm việc Chúa. Những giáo sĩ luôn luôn là những công chức then chốt của chính quyền. Họ vừa đóng vai trò hành pháp vừa tư pháp, nắm ngành giáo dục, và cai trị đất đai của họ một cách độc tài để duy trì sự vững bền của chế độ. Trong những thế kỷ tiếp theo, các giáo hoàng dần dần mở rộng vùng thống trị của mình và cho đến thế kỷ 18 thì những lãnh thổ của giáo hoàng [papal states] bao trùm hầu hết miền Trung nước Ý (Central Italy) và một phần của Bắc Ý.

Trong thế kỷ 9, đế quốc Frank sụp đổ vì bị chia làm nhiều vùng cai quản bởi các cháu của Hoàng đế Charlemagne, và uy tín triều chính giáo hoàng suy thoái bởi những triều đại giáo hoàng do điếm trị (the papacy's prestige declined into the condition later dubbed the pornocracy.)

Cuộc cách mạng Pháp là một thảm họa cho uy quyền của Giáo hoàng trên các lãnh thổ của Giáo hoàng và cho toàn thể Giáo hội Ca-Tô Rô-ma. Năm 1798, Pháp xâm chiếm tất cả lãnh thổ của Giáo hoàng (The papal states as a whole were invaded by French forces) bắt giáo hoàng lưu đầy ở Pháp. Giáo hoàng Pius VI chết trong lưu đầy ở Pháp năm 1799 (Pope Pius VI died in exile in France in 1799.) Khi chế độ Napoléon sụp đổ năm 1814, các lãnh thổ của Giáo hoàng được phục hồi. Tinh thần quốc gia của người dân Ý đã nhen nhúm từ thời Ý bị Pháp chiếm. Từ năm 1848 nhiều cuộc cách mạng quốc gia nổi dậy ở Âu Châu. Năm 1849, Ý tuyên bố là một nước Cộng Hòa La Mã (Roman Republic) và Giáo hoàng phải chạy trốn khỏi thành La Mã (a Roman Republic was declared and the Pope fled the city.) Louis Napoléon Bonaparte lên làm Hoàng đế của đệ nhị Cộng Hòa Pháp Quốc, chiều theo phái bảo thủ Ca-Tô, hợp tác với Áo, đem quân sang Ý lấy lại những lãnh thổ của Giáo hoàng và phục hồi quyền hành của Giáo hoàng... Giáo hoàng Pius trở lại La Mã và thi hành một chính sách cai trị bảo thủ và đàn áp khắc nghiệt hơn những vị tiền nhiệm (Pius pursued a harsh, conservative policy even more repressive than that of his predecessors). Những năm sau đó, những người quốc gia Ý muốn thống nhất đất nước (Italian nationalists wished to unify the country), thấy rằng chế độ lãnh thổ của giáo hoàng là sự cản trở chính cho sự thống nhất của đất nước (saw the Papal States as the chief obstacle to Italian unity)..

Louis Napoléon, nay là Hoàng đế Napoléon III, giữ quân đội ở La Mã để bảo vệ quyền hành của Giáo hoàng. Có nhiều cuộc nổi giậy nhưng không thành công vì quân đội Pháp còn trấn giữ ở Ý. Năm 1860, với hầu hết các vùng đã nổi lên chống quyền cai trị của giáo hoàng, Sardinia chinh phục 2/3 lãnh thổ miền Đông của giáo hoàng và củng cố ở miền Nam. (In 1860, with much of the region already in rebellion against Papal rule, Sardinia conquered the eastern two-thirds of the Papal States and cemented its hold on the south.) Lãnh thổ của giáo hoàng bây giờ còn lại là vùng Latium quanh thành La Mã. La Mã được tuyên bố là thủ đô của nước Ý vào tháng 3 năm 1861 khi quốc hội đầu tiên họp ở thủ đô cũ là Turin ở Piedmont. Tuy nhiên, chính phủ Ý không chiếm được quyền ở La Mã vì Pháp vẫn duy trì một căn cứ quân sự để bảo vệ Giáo hoàng. Cơ hội để giải quyết uy quyền cuối cùng của giáo hoàng trên các lãnh thổ của Giáo hoàng là biến cố xảy ra cuộc chiến tranh giữa Pháp và Phổ vào tháng 7 năm 1870. Napoléon III phải triệu hồi đoàn quân đóng ở La Mã về để bảo vệ Pháp và không còn bảo vệ được Giáo hoàng nữa. Sau cuộc chiến bại của Pháp ở trận Sedan, biểu tình ở khắp nơi trên nước Ý đòi chính quyền Ý phải chiếm La Mã. Vua Victor Emmanuel II sai một sứ giả là Công Tước Ponza di San Martino mang công hàm đến La Mã đề nghị với Giáo hoàng Pius IX một giải pháp hòa bình để vớt vát mặt mũi giáo hoàng: chấp thuận cho quân chính phủ Ý tiến vào La Mã với lý do để bảo vệ Giáo hoàng.. Pius IX từ chối và nói “Tôi không phải là nhà tiên tri, cũng không phải con của một nhà tiên tri, nhưng tôi bảo cho ông biết, các ông không bao giờ có thể vào được La Mã (I am no prophet, nor son of a prophet, but I tell you, you will never enter Rome!).

Ngày 10 tháng 9 năm 1870, Ý tuyên chiến với các lãnh thổ của Giáo hoàng, và quân đội Ý, chỉ huy bởi Tướng Raffaela Cadona, vượt qua chiến tuyến của Giáo hoàng ngày 11 tháng 9 và từ từ tiến vào La Mã. Ngày 19 tháng 9, La Mã bị bao vây. Giáo hoàng tổ chức vài ổ kháng cự. La Mã thất thủ ngày 20 tháng 9 năm 1870. Giáo hoàng tỏ sự phản đối, tự tuyên bố mình là tù nhân trong Vatican, cấm và đe dọa sẽ tuyệt thông bất cứ tín đồ Ca Tô nào tham dự vào các cuộc bầu cử trong quốc gia Ý mới. (The Pope, withdrew in protest into the Vatican, where he lived as a self-proclaimed "prisoner", and forbidding (Non Expedit) Catholics on pain of excommunication to participate in elections in the new Italian state.) Tuy nhiên, chính phủ Ý vẫn giữ quyền kiểm soát La Mã, và thế giới Ca-Tô cũng không kéo đến để giúp Giáo hoàng như Pius IX mong đợi (However the new Italian control of Rome did not wither, nor did the Catholic world come to the Pope's aid, as Pius IX had expected.)

Trong công cuộc giải phóng người dân Ý ra khỏi nanh vuốt chuyên chế của giáo hoàng và giới giáo sĩ trong những lãnh thổ của Giáo hoàng và đi tới thống nhất của nước Ý, có hai anh hùng nổi tiếng nhất là Giuseppe Garibaldi và Alessandro Gavazzi [Giuseppe Garibaldi (the lion of Caprera) and Alessandro (the Great) Gavazzi were the heroes of the Risorgimento or reunification of Italy. These 2 men were the driving force behind the liberation of Italy from the Papal tyranny. ]

Giáo hoàng, tự giam mình trong Vatican, nhưng vẫn tự coi mình như là người nắm đầy đủ quyền hành trong những lãnh thổ của giáo hoàng. Vấn đề được giải quyết dứt khoát khi Giáo hoàng Pius XI chính thức từ bỏ quyền sở hữu trên những lãnh thổ của giáo hoàng vào thập niên 1920 và ký Hiệp Ước Lateran năm 1929, chấp nhận giải pháp thành lập “quốc gia Thị Trấn Vatican” (State of the Vatican City) với chủ quyền của Tòa Thánh trong Thị Trấn này. Tất cả những lãnh thổ rộng lớn của Giáo Hoàng nay thu gọn lại còn là Thị Trấn Vatican, diện tích khoảng hai sân chơi football hoặc một sân đánh golf lớn. Và trong gần một thế kỷ từ đó đến nay, Vatican chưa hề có ý đòi lại những lãnh thổ của Giáo hoàng mà Giáo hoàng và giới giáo sĩ đã từng thống trị hợp pháp.

Trên đây là những sự kiện lịch sử về những miền đất được gọi là “lãnh thổ của Giáo hoàng” (Papal States). Bây giờ chúng ta hãy trở lại vấn nạn Ca-Tô Giáo Rô-ma ở Việt Nam đòi đất Tòa Khâm Sứ ở Hà Nội. Có vài sự kiện lịch sử sau đây.

1. Tòa Khâm Sứ nằm trong khuôn viên Nhà Thờ Lớn Hà Nội. Đất của Nhà Thờ Lớn Hà Nội vốn là đất của Chùa Báo Thiên, đã có một lịch sử cả ngàn năm. Vào gần cuối thế kỷ 19, Thực dân Pháp xâm lăng Việt nam thành công nhờ có sự hỗ trợ đắc lực của giáo dân Ca-Tô Việt Nam, theo lệnh của các Linh mục Ca-Tô Việt Nam. Sau khi chiếm thành Hà Nội lần thứ hai, Giám Mục Puginier và Việt Gian Ca-tô Nguyễn Hữu Độ đã cho phá Chùa và Tháp Báo Thiên để xây Nhà Thờ Lớn. Vậy Nhà Thờ Lớn được xây trên đất của Chùa, bị Thực dân toa rập với Giáo hội Ca Tô Rô-ma ở Việt Nam cưỡng chiếm. Theo định nghĩa thì đây là của ăn cướp.

2. Theo tài liệu của Trần Minh Khoa thì:

Ngày 4-12-1953, luật Cải Cách Ruộng Đất ra đời. Với các điều luật sau: Điều 1: Thủ tiêu quyền chiếm hữu ruộng đất của thực dân Pháp và của đế quốc xâm lược khác ở Việt Nam, xóa bỏ chế độ phong kiến chiếm hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ. Điều 2: Tịch thu toàn bộ ruộng đất và tài sản của thực dân Pháp và của đế quốc xâm lược khác. Điều 3: Đối với địa chủ Việt gian, phản động, cường hào gian ác, thì tuỳ tội nặng nhẹ mà tịch thu toàn bộ hoặc một phần ruộng đất, trâu bò, nông cụ, lương thực thừa, nhà cửa thừa và tài sản khác (rất nhiều giáo sĩ Công giáo bị bắt giam, xét xử và quy vào điều luật này). [Hiển nhiên là Nhà Thờ Lớn nằm trong điều này] Điều 10: Ruộng đất của tôn giáo (Nhà Chung, nhà chùa, thánh thất, tu viện, v.v...) thì trưng thu và trưng mua. Trường hợp có mua chính đáng thì trưng mua.

Luật Cải Cách Ruộng Đất được bắt đầu bằng sắc lệnh ra ngày 20-4-1953, đăng trên công báo của Chính phủ VNDCCH. Đặc điểm của nó là ngoài luật lệ thêm vào thì luật mới là quyết định tịch thu tất cả tài sản của đế quốc Pháp, của Việt gian, của địa chủ ác ôn. Như vậy so với luật Cải Cách Ruộng Đất và sắc lệnh được ban ra sau đó, thì khi trục xuất khâm sứ John Dooley, việc giữ lại nhà thờ Lớn không để bị trưng thu, trưng mua đã là một nhân nhượng, còn tòa Khâm sứ đương nhiên bị tịch thu vì đó là trụ sở của tay sai Vatican, cấu kết với thực dân Pháp chống phá Chính phủ. Với những điều kể trên, những mua bán, trao đổi, “cho mượn” trước đó là không còn hiệu lực. Và khi Công giáo nói “cho mượn” có nghĩa họ muốn nói rằng họ chẳng phải là một với Vatican. Họ “cho mượn” nhà mà để người khác sử dụng sai mục đích tôn giáo, chống phá chính phủ VNDCCH thì nhà bị tịch thu là không thể kêu ca vào đâu được. [Chúng ta nên nhớ vào thời gian này thì ở ngoài Bắc Ca-Tô Giáo Rô-ma ở Việt Nam đã nhận lãnh vũ khí của Pháp, tổ chức những khu “tự trị” (sic) Bùi Chu, Phát Diệm, để săn lùng và tiêu diệt kháng chiến, lập công với Pháp]

Như vậy thì tính cách pháp lý về sở hữu chủ của Tòa Khâm sứ nằm ở đâu? Ca-Tô Giáo Rô-ma lấy tư cách gì và dựa trên cơ sở nào để mà đòi Tòa Khâm Sứ? Chế độ Thực dân đã cáo chung, những thứ thực dân ban phát cho Ca-Tô Giáo Rô-ma ở Việt Nam không có giá trị Pháp lý. Một trang sử đã lật qua. Cái gì của Việt Nam hãy trả cho Việt Nam. Từ 1929 đến nay, các giáo hoàng cũng chẳng có cách nào đòi lại những lãnh thổ rộng lớn của mình. Tại sao Giáo hội Ca-Tô Rô-ma tại Việt Nam lại làm càn, khai thác sự cuồng tín của giáo dân, gây loạn để đòi lại mảnh đất vốn không phải của mình. Có lý lẽ nào ở đây?

Tôi hi vọng những người phi Ca-Tô hãy lên tiếng bày tỏ thái độ trước những hành động trịch thượng làm tàng trên đất nước Việt Nam của một thiểu số vốn có một lịch sử không đẹp trong lòng dân tộc, bất chấp những sự kiện lịch sử, phá phách sự an bình của xã hội, để đòi những quyền lợi bất chính nhỏ nhoi mà bản chất đụng chạm đến lòng yêu nước và dân tộc của tuyệt đại đa số người dân Việt Nam..

Trần Chung Ngọc

Các bài viết cùng đề tài
Chúa Hành (Chế Trung Hiếu)
Bàn những chuyện về ‘Cha’ Nghị (Thiên Lôi)
Tiếng nói của Phật tử (Trung Ngôn)
Nếu Nhà Nước VN... (Nguyễn Trí Cam)
Mềm Mỏng, Khéo Léo, Nhưng Phải Dứt Khoát (Thiên Tu)
Chuyện Tòa Khâm Sứ (Phạm Như Tịnh)
Bà con Phật tử hãy đến nơi gọi là "toà khâm sứ" (Nguyễn Viết Đắc)
Cám ơn Sachhiem (Ng C Thang)
Cần nói rõ hơn vụ Tòa Khâm sứ (Ng C. Thang)
Dư luận công chúng về vụ Đòi Đất của Ca tô La Mã (Lê Hồng Phong)
Thơ Cười Dành Cho Sa Tan KHoác Áo Chúa (LêĐức Duy)
Dư luận công chúng về vụ Đòi Đất của Ca tô La Mã (Lê Hồng Phong)
Tòa Giám Mục Hà Nội Thất Bại (Hòa Bình)
Dư luận xã hội bất bình (Hòa Bình)
Chùa Báo Thiên bị thực dân Pháp phá.. (Đỗ Chín)
V/v"cầu nguyện" đòi lại Tòa khâm sứ (Đỗ Chín)
Tìm hiểu lịch sử Nhà thờ La Vang (Nguyễn Đắc Xuân)
Lắng Nghe Sự Thật - (Chế Trung Hiếu)
Thù Trong, Giặc Ngoài (Cà Phê Tối)
Re: Tâm thư gửi Đồng bào Công giáo đang “cầu nguyện” ...(Cà Phê Tối)
Cato = Chí phèo (Bernard Chang)
42 phố nhà chung là của PGVN (Bernard Chang)
Thử Phân Tích Một Đoạn Văn của André Masson (Trần Chung Ngọc)
Xóa Bỏ Hận Thù, Nhìn Ra Hư Thật ! (ABC gửi)
Đòi Đất Cho Thằng Khâm Sứ (Giuse Phạm Hữu Tạo)
Cứu phi công Mỹ giữa đại dương (Mai Thắng)
Tương Lai Giáo Hội Ca-Tô Rô Ma ở VIỆT NAM (Trần Chung Ngọc)
Thuốc Mê Toà Khâm Sứ (Quốc Thắng)
Tiếng nói của Phật tử (Trung Ngôn)
Phật Giáo Thiền Chứ Không Ngủ (Trần Chung Ngọc)
Tử Đạo Lấy Đất Cho GIÁO HỘI LA MÃ (Thông Tấn Xã Catô Rôma)
Thư Gửi Chủ Tịch Nước (GHPGVN)
Đừng Quên Vai Trò của Vatican (Thiên Lôi)
Công văn Ủy Ban Nhân Dân Hà Nội
Cùa Tín Còn Lại (Văn Hóa Phật Giáo)
Đã đến lúc phải khôi phục Báo Thiên (Quốc Thắng)
Thư Ngỏ kính gửi Chủ Tịch nước
Hãy Xóa Dấu Vết Xâm Lược (Lệ Thọ)
Chùa Báo Thiên và Nhà thờ Lớn Hà Nội (Lý Khôi Việt)
Tâm Thư của ban vận động ... (các hòa thượng đồng ký tên)
Eh! Lữ Giang, alias Tú Gàn, Here we go again! (Trần Chung Ngọc)
Lịch sử cụ thể về khu đất gọi là phố Nhà Chung (Lê Quang Vịnh)
Truyền thông công giáo (Trần Đình Hoàng)
Time Line Cho Chùa Báo Thiên (Lý Thái Xuân)
Cầu nguyện đòi "Toà khâm" (Nguyên Mai Sơn)
Thư Ngỏ kính gửi Thủ tướng Về Vụ Tòa Khâm sứ
Ý kiến về những "Ý Kiến" trên BBC Vietnamese.com (Minh Tú)
Thư Ngỏ gửi Cám Ơn TGM (Trần Chung Ngọc)
Nhân Đọc Bài "Nhà Chúa hay Nhà Chùa" của LM Thiện Cẩm (Trần Chung Ngọc)
Công lý lịch sử của Hoàng-Trường Sa, ..đến Tòa Khâm Sứ (Ts. Lý Khôi Việt)
Trao đổi về bài viết ... (Trương Công Khanh)
Một công dân Việt Nam lên tiếng (Nguyễn Phước Hi)
Đừng Quên Ngày VESAK (Pcci)
Một Số Đề Nghị Với Nhà Nước Việt Nam (Một Nhóm)
"Tâm Thư" Tổng Giám Mục Hà Nội Ngô Quang Kiệt
Tiếng Nói Của Một Nhóm Trí Thức Trước Vụ TGM Ngô Quang Kiệt
"Sửa Lại Lịch Sử" Hay Soi Sáng Lịch Sử? (Lý Khôi Việt)
Những bài học ứng xử cần thiết (Trương Công Khanh)
Thư Ngỏ kính gửi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng
Sách mới: Từ Chùa Báo Thiên Đến Tòa Khâm Sứ (Sách Hiếm)
Cáo buộc vô cớ và thiên vị trong truyền thông (Trần Đình Hoàng)
Tâm thư gửi Đồng bào Công giáo đang “cầu nguyện” ...(Nguyễn Quốc Dũng)
Thư Gửi TGM Giuse Ngô Quang Kiệt (HY Quốc Vụ Khanh Vatican)
Đất hương hỏa và hệ thống pháp l
Nhìn Lại Ca-Tô Giáo (Trần Chung Ngọc)
Từ Hồng Y Tarcisio Bertone (Việt Thường)
Tìm hiểu lịch sử Nhà thờ La Vang (Nguyễn Đắc Xuân)
Từ Chùa Báo Thiên đến Tòa Khâm Sứ (SH & GD)
Thư Đòi Lại Chùa (Thích Chơn Tế)
Quạ Thì Đen (Bùi Kha)
Thư Kính Gửi Các Cấp Lãnh Đạo Chính Quyền Việt Nam (GHPGVN)
Công lý lịch sử của Chùa Báo Thiên ..và Tòa Khâm Sứ (Ts. Lý Khôi Việt)
Chùa Báo Thiên có bị thực dân Pháp ... (PhatTuVN)
Bà con Phật tử hãy đến nơi gọi là "toà khâm sứ" (Nguyễn Viết Đắc)
Lịch sử,Pháp lý,Hiện thực,Tình người (Trần Minh Khoa)
Hà Nội: Từ Chùa Báo Thiên Đến Nhà Thờ Lớn (Nguyễn An Tiêm)
Đòi Đất Cho Thằng Khâm Sứ (Giuse Phạm Hữu Tạo)
Thư trao đổi gửi ngài Nguyễn Văn Sang (PTVN)
Vấn Đề Đoàn Kết Dân Tộc và ...(Hoàng Hoa Nhân Kiệt)
Tôi Đọc Nguyễn Hữu Liêm và Lê Tuấn Huy (Trần Chung Ngọc)
Lại Mở Mang Nước Chúa
Câu Chuyện về Chiếc Giếng Cổ và Cây Thánh Giá (Huệ Minh)
ĐÒI ĐẤT ! ĐẤT NÀO ? ĐẤT CỦA AI ? (Trần Chung Ngọc)
Acts of violating the State law (CPO/VOV)
Nhận Xét Phản Ứng Của Lê Tuấn Huy (Trần Chung Ngọc)
lmhuule wrote on Nov 20, '09
TẢN MẠN VỀ CHỐNG CỘNG !!

Trần Chung Ngọc
Gửi bài này cho bạn bè đăng ngày 30 tháng 5, 2007



Kể từ ngày tôi “tự cưỡng bách di tản” khỏi Saigon vào mấy ngày cuối tháng 4, 1975, nay đã hơn 30 năm sống trên đất Mỹ. Cuộc chiến Việt Nam đã đưa đẩy nhiều người đến những số phận không ai muốn. Nhưng dù muốn hay không, với bản năng sinh tồn, con người vẫn phải tiếp tục sống, và tự chọn cho mình một lối sống.

Hơn 30 năm sống trên đất Mỹ nhưng lối sống của tôi chẳng phải là lối sống Mỹ, mà cũng chẳng phải là lối sống Việt.. Không xem football, không xem “soap” trên TV, không ăn gà tây nhân dịp lễ người Da Đỏ “không tạ ơn”, không la cà quán rượu, không ly dị [không Mỹ]; không hút thuốc lá, không uống rượu, chưa từng đặt chân đến những buổi nhạc hội ca vũ, chưa từng dự một cuộc biểu tình nào, chưa từng bỏ tiền ra mua Thúy Nga Paris, và không chống Cộng [không Việt], và từ năm 1985, sau khi đọc vài cuốn sách về cách nuôi súc vật và gia cầm ở Mỹ, đến nay đã 21 năm, chưa từng có một miếng thịt nào, bất kể là thịt gì, còn đi vào trong người.

Hơn 30 năm sống xa quê hương nhưng bù lại cả một khung trời thế giới đã mở rộng trước mắt. Thật vậy, nhờ “hồng ân thiên chúa” nên tôi đã có dịp đi tham quan, ngoài gần khắp nước Mỹ, khá nhiều nơi trên thế giới: Trung Quốc, Đài Loan, Singapore, Tây Âu, Đông Âu, Bắc Âu. Nhưng riêng đối với tôi, điều bù đắp hơn hết là tôi có cơ hội đọc rất nhiều sách về chiến tranh Việt Nam, về Ki Tô Giáo cũng như về Phật Giáo. Điều này đã khiến tư duy của tôi thay đổi trên nhiều phương diện.

Về Ki Tô Giáo, sau khi đọc một số sách nghiên cứu về Ki Tô Giáo trong vòng 200 năm gần đây của một số vị lãnh đạo cũng như một số học giả trong Ki Tô Giáo, cùng những khám phá trong vũ trụ học, sinh học, sinh hóa học, di truyền học v..v.., cuối cùng tôi khám phá ra rằng, chẳng làm gì có Thiên Chúa để mà có “hồng ân thiên chúa”, đúng như Richard Dawkins đã nhận định trong cuốn sách mới xuất bản của ông, “The God Delusion”: Thiên Chúa chỉ là một ảo tưởng, ảo tưởng của những người tin là Thiên Chúa thực sự hiện hữu..

Về Phật Giáo, tôi nghĩ có lẽ tôi đã tu từ nhiều kiếp trước nên nay tôi mới có thể có một cuộc sống như vậy, và tôi tin rằng thuyết “duyên sinh” cộng với thuyết “nghiệp báo” của nhà Phật là cách giải thích hợp lý nhất về những thiên sai vạn biệt trên thế giới.

Còn về chiến tranh Việt Nam, tôi đã viết một bài nhan đề “Chiến Tranh Nhìn Từ Một Phía: Phía Của Không Phía”.

Có người cho rằng đã mang danh là một người “di cư tị nạn CS” thì tất nhiên phải tham gia việc chống Cộng ở hải ngoại. Không hẳn vậy, tuyệt đại đa số thầm lặng không muốn dính dáng đến những hoạt động chống Cộng trong những vùng “gió tanh mưa máu” [mượn từ của Tú Gàn] rải rác ở ngoại quốc, các vùng Bolsa, San Jose ở California và vùng Sydney ở Úc là những vùng nổi tiếng nhất. Tôi không thuộc đa số thầm lặng trên mà lại thuộc thiểu số không thầm lặng. Không thầm lặng trước những hành động chống Cộng làm nhục lây đến những người Việt Quốc Gia chân chính. Tôi không có nói chỉ để mà nói, mà vì những lý do sau đây.

1) Hiện Tượng Chụp Mũ Cộng Sản Bừa Bãi.

Có một sự kiện khá ngộ nghĩnh trên một số trang nhà hải ngoại là bất cứ ý kiến nào, của bất cứ ai, mà không thuộc loại Chống Cộng Cực Đoan hay Chống Cộng Cuồng Điên [CCCĐ], hay Chống Cộng Chết Bỏ [CCCB], hay Chống Cộng Cho Chúa [CCCC], hoặc là đụng đến Ki Tô Giáo dù rằng chỉ là những sự thật, được dẫn chứng đàng hoàng từ những tài liệu do chính những học giả Tây phương trong Ki Tô Giáo viết, thì y như rằng ý kiến đó bị một số người có vẻ như thiếu moron ở trong óc chụp mũ đó là của Cộng Sản, nằm trong chính sách chống Thiên Chúa Giáo [Thiên Chúa ở đây nên hiểu là Thiên Chúa của Ki Tô Giáo, một trong số hàng trăm Thiên Chúa khác nhau trên thế giới], nếu sự thực ở trên cõi đời này có một Thiên Chúa như người Ki Tô thường tin, và những người viết ra những sự thực về Ki Tô Giáo đương nhiên phải là tay sai của Cộng Sản Việt Nam. Hiện nay, Cộng Sản có chống Thiên Chúa Giáo hay không, đó là một câu hỏi lớn (a big question).

Ôn cố tri tân. Nếu ngày xưa [xin đọc Peter de Rosa, Vicars of Christ, trang 48], Giáo hoàng Stephen VII khai quật xác chết của Giáo hoàng tiền nhiệm, Formosous, đã chết trước đó 9 tháng, cho mặc áo mũ cân đai của giáo hoàng, đặt ngồi trên ngai ở điện Lateran, rồi đích thân tố khổ một xác chết, thì ngày nay, những người thuộc giới CCCĐ, CCCB, CCCC, vẫn khai quật cái xác chết của CS, để mà tố khổ, tuy rằng những người Công Giáo Việt Nam vẫn ca tụng công ơn của Đức Thánh Cha của họ [John Paul II] đã cùng với TT Mỹ Ronald Reagan khai tử CS từ năm 1989, và hi vọng là tiếp theo, Đức Thánh Cha của họ sẽ “giải phóng quê hương chúng con”.. Nhưng quê hương chúng con đã được giải phóng từ năm 1954 và sau đó, 1975, và Giáo hoàng John Paul II chưa kịp “giải phóng” cái “quê hương đã được giải phóng”, giải phóng khỏi ách thực dân, giải phóng khỏi mưu đồ Công Giáo hóa Việt Nam của các con chiên của Ngài, thì Ngài đã đi chuyến tàu suốt về chầu Chúa nơi Thiên Đường (mù), nơi mà chính Ngài đã phủ nhận sự hiện hữu. Vì vậy, một bạn trẻ đã viết trên Đàn Chim Việt: “CS chết rồi nhưng chưa chôn”. Thật vậy, chúng ta thử về Việt Nam xem có còn cái gì là CS không? Tất nhiên chỉ còn trên hình thức và sách vở. Bởi vì nếu thực sự còn là Cộng sản Mao hay Cộng sản Xít-Ta-Lin thì chẳng làm gì còn các “nhà dân chủ” ngày ngày liên lạc với những tổ chức chống Việt Nam ở Hải Ngoại, ra tuyên ngôn nọ kia, lập hội lập hè v..v..

Điều này không lấy gì làm lạ. Khai thác tâm cảnh thù hận Quốc-Cộng của một thiểu số ở hải ngoại, thế lực đen, alias Công Giáo, một tôn giáo có mối thù truyền kiếp với CS, đã nắm hầu hết những phương tiện truyền thông ở hải ngoại, và vô cùng tích cực trong việc xử dụng hai thứ vũ khí mà Công Giáo thường dùng: vu khống và gây thù hận, khi Công Giáo không còn khả năng xử dụng thanh gươm và bó củi như trong thời Trung Cổ, đúng như John Remsburg đã nhận định trong cuốn “False Claims”. Bất cứ người nào nói đụng đến Công Giáo, dù tất cả chỉ là sự thật, cũng đều bị họ vu khống chụp cho cái mũ “chống Công Giáo” cộng với “làm tay sai cho Cộng Sản” để gây thù hận đối với những tín đồ Công Giáo và đối với những người chống Cộng. Họ làm như chống Công Giáo là một điều cấm kỵ, không được phép làm, hay là một việc vô đạo đức vì đã vạch ra những điều vô đạo đức trong Công Giáo, tuy rằng những nghiên cứu lịch sử về Ki Tô Giáo nói chung, Công Giáo nói riêng, đã là những điều rất thông thường và tràn ngập trong thế giới Âu, Mỹ..

Bất cứ người nào không đồng ý với những hành động chống Cộng một cách thiếu trình độ văn hóa, giáo dục, và cuồng tín như họ cũng đều bị họ vu khống cho là Cộng Sản qua những cụm từ đã trở thành lố bịch: “ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản”, “ăn cháo đá bát”, “đón gió trở cờ”, “mong được ăn cơm thừa canh cặn của CS”, “làm tay sai cho CS”, “nịnh bợ CS”. Nhưng có một điều mà ai cũng thấy rõ, đó là, những người đi chụp mũ vu khống người khác là Cộng Sản không bao giờ đưa ra bất cứ một chứng cớ nào, cũng như không bao giờ nói rõ những lý do nào đã khiến cho cá nhân bị chụp mũ đó đi “làm tay sai cho CS”, hay đi “nịnh bợ CS” trong thời buổi này. Vì danh? Danh gì? Vì lợi? Lợi gì? Vì chức tước? Chức tước gì? Có thực tế không? Có thích hợp với tuổi tác, địa vị, tình trạng kinh tế gia đình của người bị vu khống không? Lẽ dĩ nhiên những người đi buôn nón cối và đi buôn thù hận này không bao giờ cần để ý đến những chi tiết quan trọng này. Đối với họ, sự lương thiện trí thức không phải là vấn đề đáng để ý, vì bản tính của họ đã thuộc loại bất lương rồi, chủ đích của họ chỉ cần gây thù hận là đủ.

Một sự kiện khá ngộ nghĩnh khác là dân chống Cộng hải ngoại thường có thái độ “độc tôn”, cho nên bất cứ ai không chống Cộng theo ý ta cũng là Cộng Sản cả. Bởi vậy mới có cảnh tượng bát nháo, hội đoàn này chụp mũ hội đoàn kia là Cộng Sản, cá nhân này chụp mũ cá nhân kia là Cộng Sản, Công giáo chụp mũ Phật Giáo là Cộng Sản để chạy tội bán nước, và người ngoại đạo cũng lên án Công Giáo là Cộng Sản, hay ít ra cũng là thân Cộng, vì những thủ đoạn chính trị nhơ bẩn “stoop to conquer” của Vatican v..v…

Tại sao vậy? Vì sống ở trên những đất nước tự do nhất thế giới mà những kẻ trên chưa bao giờ đọc đến câu: “Tôi không chấp nhận những điều anh nói, nhưng tôi sẽ bảo vệ đến chết quyền của anh nói như vậy.” (I disapprove of what you say, but I will defend to the death your right to say it), mà theo một tác giả trên Internet, thực ra là của Beatrice Hall, bí danh là S.G. Tallentyre, nói năm 1907, câu mà người ta thường lầm lẫn cho là của Voltaire. [???] Cái mũ “Cộng Sản” đã được xử dụng như là một vũ khí để giữ độc quyền ăn nói và bịt miệng những người không đồng quan điểm với mình, nhưng càng ngày càng trở nên lố bịch vì ngày nay mọi người đều coi nó như một trò hề chính trị của những kẻ hạ căn, cho nên không gây nên một tác dụng nào.

Cộng Sản bất chiến tự nhiên thành, vì bỗng nhiên càng ngày càng có nhiều đồng minh: cá nhân, hội đoàn, Phật giáo, Công giáo, và đặc biệt, theo một vài bạn trẻ trên trang nhà Đàn Chim Việt, những nhân vật nổi danh như Giám Mục Peter de Rosa, tác giả cuốn Những Đại Diện Của Chúa Ki-Tô: Cái Mặt Đen Tối Của Những Triều Chính Giáo Hoàng (Vicars of Christ: The Dark Side of The Papacy); Giám Mục John Shelby Spong, tác giả cuốn Tại Sai Ki Tô Giáo Phải Thay Đổi Không Thì Chết (Why Christianity Must Change or Die); Helen Ellerbe, tác giả cuốn Cái Mặt Đen Tối Của Ki Tô Giáo (The Dark Side of Christianity); Douglas Lockhart, tác giả cuốn Cái Mặt Đen Tối Của Thượng Đế [Của Ki Tô Giáo] (The Dark Side of God); và hàng trăm tác giả khác gồm các bậc lãnh đạo trong Ki Tô Giáo, các giáo sư đại học, chuyên gia về tôn giáo trong thế giới Tây Phương, chỉ vì những nhân vật này cũng “chống Ki Tô Giáo” vì đã viết ra những sự thật về Ki Tô Giáo, do đó là… “thành viên của Giao Điểm”. Nếu chúng ta có dịp ghé qua trang nhà Đàn Chim Việt, chúng ta sẽ thấy “Giao Điểm” đã trở thành cái mũ để đội lên đầu bất cứ người nào không cùng ý kiến chống Cộng, hay nói ra vài sự thực về Công Giáo, hay trích dẫn tài liệu từ Giao Điểm, dù rằng Giao Điểm không hề biết những người này là ai. Tôi đã đích thân hỏi Giao Điểm và các thân hữu Giao Điểm có ai viết trên Đàn Chim Việt không. Ai cũng cười và trả lời Đàn Chim Việt không phải là chỗ để họ viết bài hay góp ý kiến trên đó.

Nói đến hai chữ “Giao Điểm” thì cũng có nhiều chuyện đáng nói. Thứ nhất, chỉ nghe thấy tên “Giao Điểm” là có nhiều người phát dị ứng, uất nghẹn nhưng không thể nói ra thành lời, vì nói thế nào cũng kẹt. Hơn 30 đầu sách Giao Điểm xuất bản không hề nhận được sự phản bác nào, trừ vài điều phê bình lặt vặt, lạc lõng, vô giá trị về cuốn “Đối Thoại Với Giáo Hoàng…” của vài con chiên nghiện đạo bênh vực “Đức Thánh Cha” như Nguyễn Văn Chức, Đỗ Mạnh Tri và một trí thức dỏm viết theo đơn đặt hàng: Dương Ngọc Dũng. Tại sao vậy? Vì tất đều là những tác phẩm nghiên cứu với đầy đủ tài liệu bất khả phủ bác. Không phủ bác được đành phải dùng vài cái mũ “chống tôn giáo” hay “chia rẽ tôn giáo”. Thật là lạ lùng và khó hiểu, ở thế giới Tây phương, cái nôi của Ki Tô Giáo, tràn ngập những sách viết về Ki Tô giáo, chỉ trích Ki Tô giáo, phân tích Ki Tô giáo v..v.. thì không có vấn đề. Nhưng nếu người Việt Nam nào mà xử dụng cùng những nguồn tài liệu của Tây phương về Ki Tô giáo như trên thì y như rằng là có tội “chống tôn giáo” hay “chia rẽ tôn giáo”. Chẳng có lẽ người Việt Nam chưa đủ trình độ để chấp nhận những sự kiện lịch sử về tôn giáo hay sao? Chẳng có lẽ chúng ta cứ phải tiếp tục nhốt người dân vào trong vòng tăm tối về tôn giáo vì sợ mất tình đoàn kết tôn giáo hay sao. Người ta chỉ thấy cái lợi trước mắt mà quên cái hại sau lưng. Đoàn kết tôn giáo chỉ có thể thực hiện khi người dân biết rõ về mỗi tôn giáo và tự mình định cho mình một hướng đi tâm linh thích hợp trong tinh thần khoan nhượng của các xã hội đa tôn giáo tân tiến. Người ta còn tự bảo vệ bằng luận điệu tôn giáo nào cũng dạy làm điều lành tránh điều ác. Đúng vậy, nhưng ngoài cái gọi là “làm điều lành tránh điều ác” có còn cái gì khác nữa không, hay tất cả chỉ có thế? Có ai đã đọc kỹ các Kinh sách của các tôn giáo chưa, và có ai đã đọc kỹ lịch sử truyền bá của các tôn giáo chưa? Có gì giống nhau và khác nhau ở chỗ nào?

Thứ nhì, có một số người chống Cộng cho rằng Giao Điểm là “cánh tay nối dài của CS” ở hải ngoại, tuy rằng một trong những người sáng lập tổ chức Giao Điểm, anh Hồng Quang, cách đây ít năm, khi về Việt Nam đã hơn một lần được Công An ưu ái mời lên “làm việc” vì cho rằng Giao Điểm có mục đích chính trị nào đó. Nhưng dần dần Giao Điểm đã chứng tỏ là theo đúng chủ trương đặt ra: Trừ Tà [Giải hoặc], Hiển Chánh [Chấn Hưng Phật Giáo], Độ Sinh [Làm việc từ thiện] cho nên ngày nay Giao Điểm tạm gọi là dễ thở đối với Nhà Nước. Mặt khác, họ chỉ nói lên vậy thôi để gây thù hận chứ tuyệt đối họ không biết gì về tổ chức Giao Điểm cũng như những người cộng tác với Giao Điểm, và nhất là họ không bao giờ dám lên tiếng thảo luận về các lập luận trong các chủ đề mà Giao Điểm viết lên, bởi vì, như trên đã nói, tất cả những bài viết trên Giao Điểm đều thuộc loại nghiên cứu với đầy đủ tài liệu dẫn chứng.

Thứ ba, có một số Phật tử cho rằng Giao Điểm là nhóm Phật tử quá khích vì viết ra những sự thực về Công giáo tuy rằng những người đóng góp trí tuệ cho Giao Điểm không phải tất cả đều là Phật tử, và không có một tác giả nào trên Giao Điểm nhân danh Phật Tử hay Phật Giáo để viết về những sự thực lịch sử về Công Giáo, hay về thời sự, chính trị v..v…. Tất cả đều chỉ là những nghiên cứu trí thức trong lãnh vực học thuật với đầy đủ tài liệu dẫn chứng, nằm trong chủ trương “giải hoặc” và mở mang kiến thức của người dân, một điều vô cùng cần thiết trong thời đại mới. Những Phật tử này còn khuyên rằng Giao Điểm nên thể hiện đức từ bi của Đạo Phật, chỉ nên ngồi hít vào thở ra cho thoải mái tâm thân, và chỉ nên dùng “ái ngữ” dù rằng ái ngữ nhiều khi chỉ có tính cách mị dân, che dấu hay sai sự thật. Khi dẫn chứng một tài liệu tiếng ngoại quốc thì phải dịch cho sát nghĩa, không thể dịch sai để phù hợp với chủ trương dùng “ái ngữ”. Đây là vấn đề lương thiện trí thức trong lãnh vực học thuật.

Thứ tư, có người nhờ uy tín, tiền, và tình của Giao Điểm nên cũng tạo được đôi chút tiếng tăm, nhưng rồi lại muốn chiếm Giao Điểm làm của riêng để lái Giao Điểm đi sang đường khác, tự tung tự tác đi nghịch lại với chủ trương của Giao Điểm, rồi trở mặt coi bạn thành thù, đem tâm thù ghét và đả kích, xuyên tạc Giao Điểm bằng những loại văn chưa từng có trên Giao Điểm. Nhưng thật là khôi hài, chỉ vì cái tiếng và uy tín của Giao Điểm, nên vẫn phải bám vào hai chữ “Giao Điểm” để câu độc giả cho những mục đích riêng tư. Nhưng giới độc giả tất nhiên biết rõ Giao Điểm nào là Giao Điểm chính gốc, và Giao Điểm nào là “Ngụy Giao Điểm.” Giao Điểm mua được một kinh nghiệm đắt giá: đành mang chút tai tiếng, và để cho tình, tiền của thân hữu suôi theo chiều gió. Lòng người thật là khó lường.

Và thứ năm, cá nhân tôi tuy không nằm trong tổ chức Giao Điểm, nhưng không hẳn là nằm ngoài theo nghĩa tôi vẫn góp bài cho Giao Điểm, dĩ nhiên vì có thiện cảm với chủ trương của Giao Điểm. Tôi có thiện cảm với Giao Điểm vì Giao Điểm là một trong những diễn đàn truyền thông hiếm hoi ở hải ngoại dám đăng những bài, dám xuất bản những sách mà không có nơi nào khác dám làm. Chẳng phải là những bài viết thuộc loại nghiên cứu trên Giao Điểm không có giá trị mà vì nhiều cơ quan truyền thông khác, vì lý do kinh tế, vì sợ mất nồi cơm, sợ mất quảng cáo, sợ bị đánh phá, nên chỉ ủng hộ ngầm mà không ra mặt ủng hộ Giao Điểm. Nhưng mỗi ngày có vài trăm người đã vào đọc trong Giao Điểm chính gốc, giaodiemonline.com, con số này không phải là nhiều, nhưng thành phần độc giả chọn lọc, trong Giao Điểm không có chửi lộn, không để cho những hạng người thiếu trí tuệ và giáo dục với những lời văn tục tĩu tham gia.

Có một chuyện ngộ nghĩnh khác là, sau khi chụp mũ CS, có người đặt câu hỏi, một câu rất ngớ ngẩn, là tại sao những người mà họ chụp mũ là thân Cộng không về Việt Nam sống với Cộng Sản. Chỉ có kẻ đần độn mới đặt một câu hỏi xâm phạm vào đời tư của người khác như vậy, nhất là khi đặt trên một giả định vu vơ là họ thân Cộng Sản mà không đưa ra bất cớ một bằng chứng nào. Hỏi như vậy thì tốt hơn là nên hỏi 7 triệu người Công Giáo Việt Nam, những người mê mẩn làm nô lệ cho Vatican, nhất nhất đều tuân theo lệnh của Vatican, sao không sang Vatican mà ở, ở đó có “Đức Thánh Cha” là đại diện của Chúa trên trần, có rất nhiều “Cha cũng như Chúa thứ hai”, cho nên chắc chắn là đường lên thiên đường gần hơn và mau hơn là ở Việt Nam. Riêng tôi, nếu có ai hỏi vậy thì tôi sẽ trả lời: Tôi muốn sống ở đâu là quyền của tôi, đâu có phải việc của các người mà xía vào chuyện này. Hơn nữa, ở Mỹ tôi mới có đủ tự do, đủ tài liệu để “chống Công Giáo”, “chống Mỹ”, như các người thường vu khống, và nhất là, “chống những người như các người.”

2) Những Cảnh Chống Cộng Vô Trí Ở Hải Ngoại.

Tôi có thể nói rằng chính những cảnh chống Cộng bát nháo, thấp kém, vô trí tuệ ở hải ngoại đã làm tôi không thể đứng chung hàng ngũ với những người thuộc loại [CCCĐ] hay [CCCB] hay [CCCC] mà phần lớn thuộc thế lực đen, chống Cộng với tâm cảnh cuồng tín tôn giáo. Điều khôi hài nhất là mấy ông linh mục ở bên nhà, sống trong một định chế tôn giáo thần trị (theocracy) phi dân chủ, phi nhân quyền v..v.., chỉ có quyền “Tòa Thánh có đánh r…. cũng khen thơm”, hay quyền “hôn nhẫn hôn chân đức thánh cha” v..v.., thế mà lại họp bè họp đảng tranh đấu cho dân chủ và nhân quyền. Đang cam tâm tự nguyện sống trong cảnh nô lệ, dù là nô lệ tâm linh, mà lại đi tranh đấu cho nhân quyền thì thật là điều không tưởng. Trong thời Ngô Đình Diệm chẳng thấy ông Linh Mục nào đòi đa nguyên, đa đảng hay dân chủ, nhân quyền. Tại sao? Vì các Ngài còn đang hưởng ơn mưa móc của một đầy tớ Chúa, ở địa vị các lãnh chúa, hối mại quyền thế, độc quyền buôn lậu và bóc lột, cướp đất của dân, và kiếm linh hồn cho Chúa.

Sau đây là một số hành động thiếu trình độ văn hóa, giáo dục những người nhân danh chống Cộng. Một nghệ sĩ cải lương Bạch Tuyết cũng làm cho các người ùn ùn kéo đến Chùa biểu tình phản đối. Một đoàn trình diễn văn nghệ, hay một cuộc triển lãm tranh ảnh cũng làm cho các người ra công biểu tình la ó chửi rủa ngăn chận hành hung những người đi coi. Một vị sư sang chữa bệnh cũng làm cho các người xông xáo vào Chùa thốt ra những lời hỗn hào vô lễ. Một vài chương trình TV tiếp vận từ bên nhà cũng làm cho các người biểu tình phản đối, đòi xóa bỏ. Các người cho rằng một nghệ sĩ, một vài màn trình diễn văn nghệ cổ truyền, một vài vị sư sang chữa bệnh, một vài bức tranh, một vài chương trình TV ở bên nhà v..v.. có thể làm cho lý tưởng quốc gia của các người, những người đã chạy bán sống bán chết khỏi Cộng Sản, bị chao đảo. Và còn nhiều nữa, làm sao kể ra cho hết. Như vậy, các người đã coi người Việt tỵ nạn toàn như các người, sợ bóng sợ gió ảnh hưởng của một nghệ sĩ, của một ông sư, của một chương trình TV v..v. từ trong nước ra. Các người đã làm nhục những người quốc gia chân chính như đa số thầm lặng vì không muốn dây với hạng người như các người.

Phản ứng của đa số thầm lặng ra sao? Họ vẫn kéo đến Chùa nghe ca sĩ Bạch Tuyết. Họ vẫn kéo đến nghe các tu sĩ Phật Giáo thuyết Pháp. Họ vẫn đi coi các chương trình văn nghệ do các nghệ sĩ bên nhà sang trình diễn. Họ vẫn xem trực tiếp những chương trình TV từ Việt Nam. Họ vẫn đi xem triển lãm. Họ làm tất cả những điều này bất kể những sự phản đối hung hăng của các người. Vậy những sự phản đối, những hành động chống Cộng ấu trĩ của các người có tác dụng gì trong cộng đồng? Các người hãy vắt tay lên trán suy nghĩ xem người quốc gia như các người có làm cái gì để vinh danh người Việt Quốc Gia hay chỉ làm nhục thêm họ vì những hành động chống Cộng vô lối của các người mà đã nhiều lần làm cho báo chí Mỹ phải lên tiếng dè bỉu. Các người áp dụng y chang sách lược của Công Giáo: cấm tín đồ không được đọc thánh kinh, không được đọc sách báo nào giáo hội không chấp thuận, không được đọc sách…Giao Điểm, sợ tín đồ mất lòng tin. Nhưng sự bất lương của các người là chống Cộng theo chính sách lưỡng chuẩn: Sư Phật Giáo từ Việt Nam sang thì chống phá, ngược lại mấy ông đầy tớ Chúa rầm rập từ Việt Nam sang quyên tiền, cấm treo cờ vàng ba sọc đỏ trong nhà thờ, thì các người im thin thít. Đó là quan niệm về tự do, nhân quyền, đa nguyên đa đảng của các người đấy. Thật là xấu hổ. Thử hỏi, nếu các người lên cầm quyền, thì quan niệm về tự do, nhân quyền, đa nguyên đa đảng của các người sẽ đi xuống đâu, và đất nước sẽ trở nên thế nào? Nhưng lịch sử khó có thể tái diễn với một Ngô Đình Diệm thứ hai và một lũ quạ đen nhân danh tôn giáo để mà tự tung tự tác, hà hiếp, bóc lột người dân.

3. Hiện Tượng Chống Cộng Bằng Chiến Thuật “Mách Bu” Của Trần Ích Tắc:

Trên trang nhà Chuyển Luân, tháng 11, 2006, có bài “Chuyện Xưa, Chuyện Nay” của Quảng Thiện, trong đó có câu: “Yêu nước vốn là bổn phận thiêng liêng của bất cứ người dân của một dân tộc nào. Vì yêu nước nên giả sử có một cách nhìn, một chính kiến, một chính sách khác đối lập với Nhà Nước cũng là chuyện bình thường. Tuy nhiên yêu nước kiểu Trần Ích Tắc yêu cầu ngoại bang can thiệp vào nước mình là một hành động không yêu nước chút nào, nếu không nói đó là hành động phản quốc.” Ngoài ra cũng còn bài 'Vọng ngoại tắc ngu' của Trần Đình Hoàng cũng nói lên cùng một ý tưởng. Thảm thay, ở hải ngoại không thiếu gì những Trần Ích Tắc thời đại như vậy. Sau đây xin đơn cử vài sự kiện đậm mùi Trần Ích Tắc.

Những điều hoang tưởng vọng ngoại như “Cha đã tiên phong góp phần giải phóng quê hương Cha, và tiếp đến sẽ là quê hương chúng con” (Bước Qua Ngưỡng Cửa Hi Vọng, trang 11), hoặc “Ủy ban Nhân Quyền Quốc Tế cho rằng...” hay “Tổ Chức Ân Xá Hoa Kỳ tố cáo rằng..”, “Dư luận cả thế giới và nhất là Quốc Hội Mỹ đều tập trung xoáy vào điểm...” , hay ca tụng “Nghị Quyết của Hạ Viện Mỹ”, “Luật về tự do tôn giáo thế giới của Mỹ” v..v.. để ép Việt Nam, đều nói lên “lòng yêu nước” của Trần Ích Tắc, đồng thời tỏ rõ sự yếu kém của những tổ chức tranh đấu hải ngoại, tự mình không thể làm nên trò trống gì, cứ phải dựa hơi những tổ chức, cơ quan ngoại quốc mà thực chất chẳng có ảnh hưởng gì trên quốc tế, nhất là đối với các nước Á Đông.

Người ta đã tin tưởng vào vài lời nói đãi bôi của vài nghị sĩ, dân biểu Mỹ cần kiếm phiếu, hay vài cái nghị quyết chỉ có giá trị trên mặt giấy tờ của Hạ Viện Mỹ, hay đạo luật về tự do tôn giáo thế giới (The International Religious Freedom Act) của Quốc hội Mỹ, làm như Mỹ có toàn quyền thay đổi bộ mặt chính trị ở Việt Nam bằng nghị quyết và đạo luật của Mỹ. Kết quả ra sao, chúng ta đã thấy rõ. Chẳng có ai buồn quan tâm đến thực chất của những nghị quyết hay đạo luật về tự do tôn giáo của Mỹ là như thế nào. Riêng về đạo luật về tự do tôn giáo thì Giáo sư luật tại đại học Emory, Abdullahi Ahmed An-Na'im, đã phê bình như sau: "Nhiều người nhớ lại những lời hoa mỹ thiên Ki Tô trước đây và tin rằng Hoa Kỳ chỉ quan tâm đến sự hỗ trợ các thừa sai Mỹ ở ngoại quốc." (Emory University law professor Abdullahi Ahmed An-Na'im says many remember the early pro-Christian rhetoric and believe the United States is only interested in aiding American missionaries abroad.), và J. Paul Martin, Giám đốc trung tâm nghiên cứu nhân quyền tại đại học Columbia còn đi xa hơn nữa. Ông nói: "Ở các nước như Nga sô, Pháp, Bỉ, và Đức, nhiều người coi đạo luật về tự do tôn giáo của quốc hội Hoa Kỳ là một phần của chủ nghĩa đế quốc rộng lớn hơn của Mỹ" (J. Paul Martin, executive director of Columbia University's Center for the study of Human Rights, goes further. In such countries as Russia, France, Belgium, and Germany, he says, many see Congress' action as "part of a larger American imperialism".) Nhưng người Việt chống Cộng lại coi đạo luật này như là một khuôn vàng thước ngọc có ảnh hưởng đến tình trạng tôn giáo ở Việt Nam, hay nói đúng hơn, có ảnh hưởng đến vài vị lãnh đạo tôn giáo chống chính quyền ở Việt Nam.

Người ta cũng còn tin tưởng ở hiệu quả của cái nghị quyết số 1481 mà nội dung là "Về sự cần thiết lên án của quốc tế đối với tội ác của các chế độ cộng sản độc tài" của một số nghị viên trong Quốc hội Âu Châu đưa ra, số nghị viên này quên cả sự cần thiết lên án cái lịch sử đầy những tội ác vô tiền khoáng hậu của Âu Châu đối với nhân loại. Theo Christopher Caldwell thì cái gọi là Quốc Hội Âu Châu, có tổng hành dinh ở Strasbourg, thường bị chế nhạo là “một tiệm phát ngôn vô hiệu quả và là nhà hưu trí cho những chính trị gia không bao giờ có thể được bầu vào trong quốc hội ở những quốc gia của họ.” [The European Union's 25-country parliament, which sits in Strasbourg, is often ridiculed as a feckless talking shop and a retirement home for politicians who could never get elected to their national parliaments.]

Vô thượng thiên tài “mách bu” là Võ Văn Ái: Chuyên viên ngụy tạo văn kiện, thông tin giả từ trong nước theo đơn đặt hàng của NED để trình chủ và thế giới, từ đó kiếm được gần trăm ngàn đô-la mỗi năm từ ông chủ NED. Những Trần Ích Tắc thời đại cũng còn thành lập phái đoàn nọ kia đến xin với Thủ Tướng Úc John Howard và Tổng Thống Bush của Mỹ để làm áp lực với Nhà Nước khi đến Việt Nam tham dự Hội Nghị APEC. Nhưng kết quả ra sao thì ai cũng biết. Bush và Howard không coi các Trần Ích Tắc vào đâu, và đặc biệt, Mỹ đã bỏ Việt Nam ra khỏi danh sách những nước cần quan tâm về vấn đề tự do tôn giáo. Bây giờ họ bèn quay ra lên án Bush là đã phản bội, không ủng hộ họ, không làm theo ý họ, mà không hiểu rằng kẻ phản bội [quốc gia của họ] chính là họ, chứ không phải là Bush. Họ tự coi mình là những nhân vật quan trọng mà không hiểu rằng Bush không hề coi họ là cái gì. Thật vậy, họ có cái gì? trí tuệ, uy tín, hậu thuẫn của quần chúng? v..v.. đáng để cho Bush phải quan tâm đến. Thật ra thì Mỹ có bỏ hay không bỏ cũng chẳng nhằm nhò gì, vì đáng quan tâm hay không đáng quan tâm thì Mỹ cũng chỉ lập danh sách đó với tính cách giai đoạn chính trị và kinh tế mà thôi. Những người chống Cộng cực đoan hầu như đều có đầu óc của những con bò mộng Tây Ban Nha, cứ thấy màu đỏ là húc, chẳng còn biết trời đất nào nữa. Khi ngoại trưởng Condoleezza Rice tuyên bố một câu có ý khen tặng sự tiến bộ của Việt Nam là “Bắc Hàn và Myanmar nên thay đổi, lấy Việt Nam làm một bài học mà bắt chước” thì những người Việt Nam có tinh thần dân tộc đều thấy đó làm niềm hãnh diện. Nhưng đối với những người chống Cộng đến chiều thì lại khác, họ lên án bà Rice là thiển cận. Họ không biết rằng Bắc Hàn còn đóng kín không mở cửa đi vào cộng đồng thế giới như Việt Nam (Hội Nghị APEC đã chứng tỏ như vậy), và Myanmar là một chế độ quân phiệt, xã hội hỗn loạn, không ổn định như Việt Nam. Họ thất vọng vì bà Rice không lên án Cộng Sản Việt Nam như họ mong muốn. Họ chống Cộng với quan điểm rất thiển cận: sự tự do của một số người chống đối chính quyền là sự tự do của cả dân tộc, và vài chức sắc tôn giáo chính là tôn giáo. Còn nữa, những nhà dân chủ đến Tòa Đại Sứ Mỹ uống sâm banh không có một khái niệm nào về chính trị của Mỹ, cứ tưởng Mỹ gọi mình đến cho uống sâm banh là hết lòng ủng hộ sát cánh với mình trong cuộc đấu tranh cho dân chủ của mình, không biết rằng Mỹ chỉ dùng mình như cái bàn đạp trong những cuộc thương thuyết về kinh tế với Việt Nam. Kinh nghiệm Mỹ dùng Diệm Thiệu khi xưa không làm mở mắt những người vẫn còn thích đi làm đầy tớ.

Vì không hiểu rõ tinh thần dân tộc của người dân Việt Nam, không nghiên cứu về thực chất của vấn đề nhân quyền và tự do tôn giáo, không biết rằng Mỹ cũng là nước vi phạm nhân quyền vào bậc nhất trong cộng đồng quốc tế, không thuộc lịch sử Việt Nam, yếu kém về chính trị, và không rõ chính sách đối ngoại của Mỹ v..v.. cho nên tới bây giờ mà vẫn còn những tổ chức chính trị, lực lượng tôn giáo đi “mách bu” mong rằng “bu” sẽ can thiệp vào nội bộ Việt Nam. Thật là đáng buồn. Thử nghĩ xem Việt Nam có người nào tôn sùng những thứ người như Trần Ích Tắc hay Lê Chiêu Thống? Những Trần Ích Tắc thời đại không những thiếu hiểu biết về chính trường quốc tế, lại cũng không biết rằng đã từ lâu Á Đông không chấp nhận quan niệm về nhân quyền của Tây phương, vì ngoài những bất đồng về văn hóa, xã hội, nhân sinh v..v.. giữa những nền văn minh khác nhau, Á Đông còn coi sách lược lưỡng chuẩn (double standard) về nhân quyền của Tây phương như là một sự áp đặt để đạt những mục đích kinh tế, tôn giáo. Tây phương, với bản chất đế quốc, chưa bao giờ tôn trọng nhân quyền ở các nơi khác trên thế giới. Noam Chomsky, một học giả lừng danh của Mỹ, đã viết rõ:

“Thật ra chính sách ngoại giao của Mỹ là đặt căn bản trên nguyên tắc không liên quan gì đến nhân quyền, mà là liên quan nhiều đến sự tạo ra một bầu không khí thuận lợi cho ngoại thương” (James Speck, Editor, The Chomsky Reader, p. 331: U.S. foreign policy is in fact based on the principle that human rights are irrelevant, but that improving the climate for foreign business operations is highly relevant.)

Mơ tưởng ở sự hữu hiệu của chiến thuật “mách bu”, giới chống Cộng bây giờ mới ngã ngửa người ra thất vọng, và các nhà bình luận nổi tiếng là bình luận láo trên các diễn đàn truyền thông hải ngoại, đã quay ra bình luận tiêu cực về chuyến đi Việt Nam của ông Bush. Trước kinh nghiệm này, không hiểu họ đã chịu mở mắt ra chưa hay vẫn còn hi vọng vào Hạ Viện Mỹ, Dân Biểu Mỹ, Quốc Hội Mỹ, Quốc Hội Âu Châu hay vào vài cái nghị quyết, đạo luật ấm ớ mà thực chất chẳng có tác dụng là bao nhiêu.

Bây giờ tôi xin sang đến vấn đề cá nhân: chống hay không chống Cộng? Tôi không ngần ngại mà khẳng định một điều: “Tôi không chống Cộng”. Tại sao? Tôi có bổn phận phải giải thích cho bất cứ ai là tại sao không? Tuyệt đối là không. Nhưng đã viết về chống hay không chống thì có lẽ tôi cũng nên có vài nhận xét về chủ đề này. Trước hết, chúng ta cần phải nhận rõ một điều: “không chống Cộng” và “là Cộng” là hai điều hoàn toàn khác nhau. Hai chữ “Cộng Sản” thực ra chỉ là cái mũ của những người không đủ khả năng thảo luận trên các chủ đề, hoặc không thể chấp nhận những quan điểm khác với quan điểm chống Cộng của mình.

Như trên đã nói, ở Mỹ trong mấy chục năm, tôi đã có cơ hội đọc rất nhiều sách về cuộc chiến tranh Việt Nam, về Phật Giáo, và về Ki Tô Giáo, và điều này đã làm tôi thay đổi tư duy rất nhiều về thực chất của cuộc chiến cũng như thực chất của hai tôn giáo lớn ở Việt Nam: Phật Giáo và Công Giáo.

Thứ nhất, về cuộc chiến chống Pháp trở lại Đông Dương thì không có gì đáng nói, vì cuộc chiến đó hầu như là của toàn dân, trừ số người đã phục vụ cho Pháp, trong đó có tôi, vì hoàn cảnh đã đưa đẩy tôi phải nhập trường Sĩ Quan Trừ Bị Nam Định, và sau đó phục vụ trong quân đội Quốc Gia, dưới cái dù của quân đội Pháp, và sau này, trong QLVNCH.. Có đáng nói hay không là kết quả đã đưa đến Hiệp Định Genève.

Một luận điệu bóp méo lịch sử thường thấy ở hải ngoại là: “Cộng sản cưỡng chiếm miền Nam”, hay “Cộng sản xâm lược miền Nam”. Những lời nói vô trí này đặt trên giả định là hai miền Nam Bắc là hai quốc gia riêng biệt, độc lập. Muốn biết những luận điệu này có khớp hay không, chúng ta cần trở lại vài điều khoản chính yếu trong Hiệp Định Genève. Hiệp định Genève có hai phần: phần “Thỏa Hiệp” và phần “Tuyên Ngôn cuối cùng” [Final Declaration]

Phần “Thỏa Hiệp...”, gồm 47 điều khoản, được ký kết giữa Tướng Pháp Henri Delteil, Quyền Tổng Tư Lệnh Lực Lượng Liên Hiệp Pháp ở Đông Dương, và ông Tạ Quang Bửu, Thứ Trưởng Quốc Phòng của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Có vài điều khoản chính như sau:

Điều khoản 1 (Article 1) nói về sự thiết lập “một đường ranh giới quân sự tạm thời” (A provisional military demarcation line) [Vĩ tuyến 17] để quân đội hai bên rút quân về: Lực lượng quân đội nhân dân Việt Nam ở phía Bắc, và lực lượng Liên Hiệp Pháp (French Union) ở phía Nam làn ranh giới.

Điều khoản 8 ấn định quyền kiểm soát hành chánh ở phía Bắc Vĩ Tuyến 17 thuộc Việt Minh và ở phía Nam thuộc Pháp (Civil administration in the regroupment zone to the North of the 17th parallel was to be in the hands of the Vietminh, and the area to the South of the parallel was to be in the hands of the French)

Điều khoản 14, đoạn (a) [Article 14, Paragraph (a)] viết rõ: “Trong khi chờ đợi cuộc Tổng Tuyển Cử để Thống Nhất Việt Nam, quyền hành chánh dân sự trong mỗi vùng rút quân nằm trong tay các phe có quân đội rút quân (nghĩa là Pháp và Việt Minh) theo tinh thần của bản Thỏa Hiệp.” (Pending the general elections which will bring about the Unification of Vietnam, the conduct of civil administration in each regrouping zone shall be in the hands of the party whose forces are to be regrouped there in virtue of the present Agreement).

Bản “Tuyên Ngôn...” gồm 13 đoạn, liên quan đến cả Cambod và Lào, có một đoạn đáng để ý:

Đoạn (6) [Paragraph (6)] nguyên văn như sau:

“Hội Nghị nhận thức rằng mục đích chính yếu của Thỏa Hiệp về Việt Nam là dàn xếp những vấn đề quân sự trên quan điểm chấm dứt những đối nghịch quân sự và rằng ĐƯỜNG RANH GIỚI QUÂN SỰ LÀ TẠM THỜI VÀ KHÔNG THỂ DIỄN GIẢI BẤT CỨ BẰNG CÁCH NÀO ĐÓ LÀ MỘT BIÊN GIỚI PHÂN ĐỊNH VỀ CHÍNH TRỊ HAY ĐẤT ĐAI . Hội Nghị bày tỏ sự tin tưởng là thi hành những điều khoản trong bản Tuyên Ngôn này và trong Thỏa Hiệp ngưng chiến sẽ tạo nên căn bản cần thiết để trong tương lai gần đạt tới một sự dàn xếp chính trị ở Việt Nam”

(The Conference recognizes that the essential purpose of the Agreement relating to Vietnam is to settle military questions with a view to ending hostilities and that THE MILITARY DEMARCATION LINE IS PROVISIONAL AND SHOULD NOT IN ANY WAY BE INTERPRETED AS CONSTITUING A POLITICAL OR TERITORIAL BOUNDARY. The Conference expresses its conviction that the execution of the provisions set out in the present Declaration and in the Agrrement on the cessation of hostilities creates the necessary basis for the achievement in the near future of a political settlement in Vietnam.)

Qua những văn kiện lịch sử này, chúng ta thấy rõ là “Việt Nam Quốc Gia” vốn nằm dưới cái dù của Pháp, và phải thi hành Hiệp định Genève dưới cái dù của Pháp. Nhưng khi Mỹ, dùng cường quyền thắng công lý, nhảy vào thay thế Pháp, đưa con cờ “Công Giáo chống Cộng” Ngô Đình Diệm về [Xin đọc bài “Vài Nét Về “Cụ Diệm” trên giaodiemonline.com], dựng lên miền Nam, sống vì viện trợ Mỹ, chịu sự sai khiến của Mỹ, chạy làng không chịu thi hành cuộc Tổng Tuyển Cử vào năm 1956, và cưỡng ép người dân phải chấp nhận một sự phân chia hai miền độc lập, phản bội điều khoản: “ĐƯỜNG RANH GIỚI QUÂN SỰ LÀ TẠM THỜI VÀ KHÔNG THỂ DIỄN GIẢI BẤT CỨ BẰNG CÁCH NÀO ĐÓ LÀ MỘT BIÊN GIỚI PHÂN ĐỊNH VỀ CHÍNH TRỊ HAY ĐẤT ĐAI” trong Hiệp định Genève. Đây là những sự kiện lịch sử. Ai có thể phủ bác được xin lên tiếng.

Nói tóm lại, không làm gì có chuyện chia nước Việt Nam thành hai miền độc lập về chính trị và quân sự. Huyền thoại về một miền Nam độc lập như một quốc gia riêng biệt chỉ là sản phẩm do Mỹ dùng cường quyền thắng công lý tạo ra về sau, tuy trong bản Tuyên Ngôn Đơn Phương (Unilateral Declaration) của Mỹ về Hội Nghị Genève, Mỹ không bao giờ nói đến “Nam” hay “Bắc” mà chỉ nói đến một nước Việt Nam (Kahin & Lewis: Nowhere in its unilateral declaration did the US speak of a “South” or “North” Vietnam. Every reference of the American representative was to a SINGLE VIETNAM.). Ngoài ra Mỹ cũng đã hứa sẽ không đe dọa hoặc can thiệp bằng võ lực vào việc thống nhất đất nước qua cuộc Tổng Tuyển Cử năm 1956. Thật vậy, Thứ Trưởng Ngoại Giao Mỹ, Walter Bedell Smith xác định trong bản Tuyên Ngôn tại Washington D.C. như sau:

“Trong trường hợp những quốc gia nay bị chia đôi ngoài ý muốn, chúng ta sẽ tiếp tục tìm kiếm giải pháp thống nhất qua bầu cử tự do, giám sát bởi Liên Hiệp Quốc để bảo đảm là bầu cử được thi hành nghiêm chỉnh” và “Hoa Kỳ sẽ tự kiềm chế, không đe dọa hay dùng võ lực để phá những sự Thỏa Hiệp”

(In the case of nations divided against their will, we shall continue to seek to achieve unity through free elections, supervised by the United Nations to ensure that they are conducted fairly... The US will refrain from the threat or the use of force to disturb them)

Trong cuốn The United States In Vietnam: An Analysis In Depth Of The History Of America’s Involvement In Vietnam, hai Giáo sư đại học Cornell, George McTurnan Kahin và John W. Lewis, viết, trang 59:

“Tuy Hoa Kỳ nói rằng “sẽ tự kiềm chế, không đe dọa hay dùng võ lực để phá những sự Thỏa Hiệp” nhưng điều hiển nhiên chúng ta thấy ngay sau đó là Hoa Kỳ đã sửa soạn dùng mọi phương cách khác để ủng hộ chế độ Saigon [do Mỹ dựng lên] trong việc không tôn trọng những điều khoản trong Thỏa Hiệp”

(Though the US said it would “refrain from the threat or the use of force to disturb” the agreements, it soon become evident that it was prepared to use every other means to back up the Saigon regime in its departure from their central provisions).

[Tưởng chúng ta không nên quên là ngay từ sau Hiệp Định đình chiến 1954, Mỹ đã gửi Lansdale ra ngoài Bắc để phá hoại, tuyên truyền, và cổ võ giáo dân Công giáo di cư vào Nam làm hậu thuẫn cho Ngô Đình Diệm với những khẩu hiệu như “Chúa đã vào Nam” và “Đức Mẹ đã bỏ miền Bắc vào Nam” v..v.. để dụ đám giáo dân thấp kém. Vì vậy hơn 800 ngàn Giáo dân Công Giáo đã ào ào kéo vào Nam, không buồn để ý đến chuyện những khẩu hiệu lố bịch trên đã chứng tỏ là nếu tin như vậy thì thành ra Ông Mác đã đuổi Chúa và Đức Mẹ chạy từ Bắc vào Nam, tuy rằng Chúa và Đức Mẹ đều là những bậc toàn năng, toàn trí, quyền phép vô cùng, làm gì cũng được, cùng lúc chứng minh trình độ và ý thức tôn giáo của giáo dân Công giáo Việt Nam. Thật là tội nghiệp cho đầu óc của họ.]

Hãy để tâm suy nghĩ một chút. Việt Minh động viên người dân, tốn bao xương máu trong cuộc kháng chiến chống Pháp, cuối cùng đi đến chiến thắng Điện Biên Phủ, chấm dứt nền đô hộ của thực dân Pháp, thu hồi độc lập cho đất nước, phải chăng chỉ để chia nước Việt Nam thành hai miền riêng biệt, để cho miền Nam trù phú thóc gạo, lâm, ngư sản thuộc quyền những kẻ không hề có một công trạng gì với đất nước như Ngô Đình Diệm, một người thuộc dòng họ Tam Đại Việt Gian như Giáo sư sử Nguyễn Mạnh Quang đã chứng minh, và nằm yên trong vài Trường Dòng Công Giáo ở ngoại quốc trong khi đa số người dân đang kháng chiến chống Pháp và một số nhỏ hơn đang chiến đấu cho cái mà họ tin là lý tưởng quốc gia? Nếu không tin ở giải pháp chính trị để tiết kiệm xương máu người dân thay vì theo đuổi giải pháp quân sự, là đất nước sẽ thống nhất qua cuộc Tổng Tuyển Cử vào năm 1956 theo quy định của Hiệp định Genève thì Việt Minh có chịu ký Hiệp định Genève không khi đang thắng thế. Thống nhất đất nước là mục tiêu tối hậu không thể thay đổi của Việt Minh và rất hợp với lòng dân, với truyền thống dân tộc, và xóa bỏ chính sách chia Việt Nam làm ba Kỳ để trị của Pháp.. Nhưng Mỹ đã vì những quan niệm chính trị sai lầm về chính trị nên đã dùng miền Nam làm tiền đồn chống Cộng cho Mỹ, vi phạm Hiệp định Genève, và đưa Việt Nam vào một cuộc chiến tàn khốc vô ích vì kết cục không thay đổi: Việt Nam vẫn đi đến thống nhất dù bắt buộc phải dùng đến giải pháp quân sự. Người Đại Hàn rất ngưỡng mộ Việt Nam vì họ không biết đường nào để đi đến thống nhất đất nước của họ, tuy muốn.

Tôi vẫn thường thắc mắc: “Miền Nam có hơn một triệu quân, một thời cộng với hơn nửa triệu quân Mỹ, với đầy đủ vũ khí, đạn dược, và có ưu thế tuyệt đối về máy bay, xe tăng, tàu chiến, B52, và cả thuốc khai quang Agent Orange để cho Việt Cộng không còn chỗ ẩn núp v..v.. nhưng tại sao vẫn không thắng nổi đối phương để rồi Mỹ phải tìm cách Việt Nam hóa cuộc chiến, “rút lui trong danh dự”, và cuối cùng Việt Cộng vẫn “cưỡng chiếm” được miền Nam? Vậy ngoài yếu tố quân sự, những yếu tố nào đã quyết định cuộc chiến? Phải chăng là lòng yêu nước? Chính Nghĩa? Hợp với lòng dân và được dân ủng hộ? Ý chí chiến đấu của binh sĩ? Khả năng chỉ huy của các cấp lãnh đạo? Và còn gì nữa? Vậy luận cứ “Việt Cộng cưỡng chiếm miền Nam” ở hải ngoại có một giá trị trí thức nào không hay chỉ là nói để mà nói mà không biết mình nói cái gì.

Chuyện Mỹ “rút lui trong danh dự” ra khỏi miền Nam, kéo theo sự sụp đổ của miền Nam, nhìn qua lăng kính lịch sử thì không lấy gì làm lạ. Tại sao? Vì bản chất cuộc chiến hậu Genève ở Việt Nam là cuộc chiến chống xâm lăng và thống nhất đất nước, và Việt Nam có truyền thống chống xâm lăng rất kiên trì và chịu đựng mọi hi sinh. Nhưng mà ai xâm lăng? Chúng ta hãy đọc vài tài liệu của Mỹ trong số hàng trăm tài liệu khác:

Daniel Ellsberg trong cuốn Secrets: A Memoir of Vietnam and the Pentagon Papers, Viking, 2002, p.255, viết: Theo tinh thần Hiến Chương Liên Hiệp Quốc và theo những lý tưởng mà chúng ta công khai thừa nhận, đó là một cuộc ngoại xâm, sự xâm lăng của Mỹ. (In terms of the UN Charter and our own avowed ideals, it was a war of foreign agression, American aggression.); và John Carlos Rowe and Rick Berg viết trong cuốn Chiến Tranh Việt Nam Và Văn Hóa Mỹ (The Vietnam War and American Culture, Columbia University Press, New York, 1991), cũng viết, trang 28-29: Cho tới năm 1982 – sau nhiều năm tuyên truyền liên tục mà hầu như không có tiếng nói chống đối nào được phép đến với đại chúng – trên 70% dân chúng vẫn coi cuộc chiến (ở Việt Nam) “căn bản là sai lầm và phi đạo đức”, chứ không chỉ là “một lỗi lầm.”…Nói ngắn gọn, Mỹ xâm lăng Nam Việt Nam, ở đó Mỹ đã tiến tới việc làm ngơ tội ác xâm lăng với nhiều tội ác khủng khiếp chống nhân lọại trên khắp Đông Dương. (As late as 1982 – after years of unremitting propaganda with virtually no dissenting voice permitted expression to a large audience – over 70% of the general population (but far fewer “opinion leaders”) still regarded the war as “fundamentally wrong and immoral,’ not merely “a mistake”.. In short, the US invaded South Vietnam, where it proceeded to compound the crime of aggression with numerous and quite appalling crimes against humanity throughout Indochina.)

Bây giờ chúng ta hãy nhìn vào những con số tổn thất trong cuộc chiến do Mỹ gây nên vì chính trị sai lầm như nhiều chính khách và học giả Mỹ đã thú nhận và nhận định.

- Mỹ: Chết 57,702; bị thương 313,616, cộng với hơn 1,000 chết không phải do chiến trận.

- Nam Việt Nam: Chết 185,528; bị thương 499,026.

- Bắc Việt: Chết 924,048; số bị thương ước tính ít nhất gấp đôi.

- Cả hai miền: 415,000 thường dân chết; 936,000 bị thương.

- Trên 10 triệu tấn bom đã thả xuống Việt Nam, Cam bốt, và Lào (vào khoảng gấp hơn 2 lần tấn bom mọi phe dùng trong đệ nhị Thế Chiến.)

- Mỹ cũng đã trải trên đất nước Việt Nam 76,954,806 lít hóa chất trong đó có 49,268,937 lít

chất độc màu da cam (Nguyễn Văn Tuấn, Chất Độc Màu Da Cam Và Cuộc Chiến Việt Nam,

Giao Điểm 2005, trang 52).

Chúng ta hãy tự đặt cho mình một câu hỏi, với những con số tổn thất như vậy, bên nào bị nặng hơn, và nếu cần phải thù hận thì bên nào sẽ thù hận hơn. Nhưng trên thực tế, chúng ta chỉ thấy những thái độ thù hận một chiều, đúng ra là ngược chiều, từ phía những người quốc gia ở hải ngoại. Có vẻ như những người đi buôn thù hận này nghĩ rằng, những người bên phía CS không phải là người, không có cha mẹ, vợ chồng con cái, bạn bè thân thuộc v..v.. nên những mất mát tổn thất của họ không đáng kể, chỉ có những tổn thất của phía chúng ta mới đáng để thù hận. Có vẻ như những người chống Cộng một chiều này nghĩ rằng trong cuộc chiến chỉ có CS là ác, còn QG hay Mỹ thì không. Họ lầm to, họ không biết gì về những hành động đối với dân, với kẻ thù của người lính Quốc Gia cũng như của người lính Mỹ.

Cộng Sản có Đặng Thùy Trâm. Chúng ta có ai? Chúng ta đã thua CS về quân sự, nay chúng ta lại thua về tình người, vì ở trong nước, dư luận có luận điệu thù hận phe quốc gia thật là hiếm hoi. Nhưng cũng may, những tổ chức CCCĐ, CCCB, CCCC ở ngoại quốc chung quy chỉ là những tổ chức của đám người hoặc mất gốc, hoặc đã phi dân tộc thì thể nào cũng phản bội dân tộc, đang nắm những phương tiện truyền thông ở hải ngoại nhưng thiếu khả năng, thiếu trí tuệ và giáo dục, nên chỉ có thể đưa ra những hành động chống Cộng phi lý làm nhục lây đến cả cộng đồng người Việt di cư như rủ nhau đi biểu tình chống phá Expo, triển lãm tranh ảnh, văn nghệ của Việt Nam, chống phá phái đoàn các em học sinh về Việt Nam nghiên cứu trao đổi văn hóa v..v... Tuyệt đại đa số người Việt di cư đã bỏ lại đàng sau quá khứ, hướng về tương lai của dân tộc, bằng chứng là mỗi năm có hàng trăm ngàn “Việt kiều” về thăm quê hương, trong số đó không thiếu gì những người khi xưa đã giữ những chức vị cao cấp ở miền Nam.

Phải chăng vì vậy mà, Phật Giáo, vốn là tôn giáo của dân tộc, đang sửa soạn đi một bước đi ngoạn mục đầy tình người, đầy tinh thần Phật Giáo, đầy tinh thần dân tộc, mà đáng lẽ chính quyền Việt Nam đã phải thực hiện từ lâu rồi: Phối hợp Phật Giáo trong và ngoài nước, trong tương lai gần, Phật Giáo Việt Nam sẽ tổ chức ba Đại Trai Đàn Chẩn Tế Giải Oan, một tại Sài Gòn, một tại Huế và một tại Hà Nội, để cầu nguyện và giải trừ oan khổ cho tất cả những ai đã từng gánh chịu hậu quả khắc nghiệt của cuộc chiến tranh, dù đã qua đời hay còn tại thế. Các Đại Trai Đàn này có tên là Thủy Lục Giải Oan Bình Đẳng Cứu Bạt Trai Đàn. Oan khổ là tất cả những bất hạnh xảy ra ngoài ý muốn và không đáng xảy ra.

Quan điểm của Phật Giáo về việc tổ chức Đại Trai Đàn Chẩn Tế Giải Oan được trình bày qua vài đoạn sau trong bản Phổ Cáo Cùng Đồng Bào trong Và Ngoài Nước:

“Quý đồng bào và liệt vị Phật tử chắc cũng thấy như chúng tôi rằng muốn có một tương lai cho đất nước và quê hương, chúng ta phải có khả năng nắm tay nhau cùng đi trong tình huynh đệ và nghĩa đồng bào. Điều này chỉ có thể thực hiện một khi ta chấp nhận được nhau và tha thứ cho nhau, và vì thế chữa lành thương tích trong lòng người, nói lên được niềm đau nỗi khổ và những oan khuất lâu nay là một điều thiết yếu. Đại Trai Đàn Chẩn tế Giải Oan là để làm công việc ấy. Tại Đại Trai Đàn, chúng ta tới với nhau, nhìn nhận nhau như anh chị em ruột thịt một nhà, chúng ta cầu nguyện cho tất cả những người thân đã từng chết đi một cách oan ức…Ta sẽ có dịp khóc cho tất cả các đồng bào và thân nhân xấu số của ta …Đồng bào ta từ giới lão trượng đến giới trung niên và thiếu niên, ai cũng có tâm yêu nước thương nòi, ai cũng ao ước đấu tranh cho nền độc lập, tự do, thống nhất và hòa bình cho đất nước; nhưng khi đất nước bị đặt vào một hoàn cảnh khó xử, nhiều người trong chúng ta đã phải đối đầu với nhau và trở nên nạn nhân của một cuộc đấu tranh khắc nghiệt và lâu dài. Nhiều người trong chúng ta đã phải trải qua những hoàn cảnh cực kỳ bi thương, thê thảm, đọa đày, nỗi oan ức chưa bao giờ được biết tới... Nay đất nước đã được thống nhất, hòa bình đã được tái lập, chúng ta có dịp trở về với nhau, nắm tay nhau, chấp nhận nhau để cùng cầu nguyện cho nhau, cho những người đã khuất và những người còn đang tiếp tục gánh chịu oan nghiệt, và để tất cả cùng có cơ hội chữa lành những vết thương rướm máu lâu ngày chưa lành. Các Đại Trai Đàn Chẩn Tế Giải Oan là một trong những hình thức thực tập chữa trị thương tích, nối kết lại tình đồng bào ruột thịt, và làm vơi đi những oan khổ uất ức đã được chứa chất lâu nay.

Chúng tôi biết, tổ chức những Đại Trai Đàn như vậy không phải là một chuyện dễ. Sẽ có những người đồng bào không đồng ý với công việc này. Có thể vì đã từng bị mất mát khổ đau và thiệt thòi quá nhiều trong quá khứ hoặc vì còn sợ hãi không dám nhìn nhận nỗi đau thương vẫn còn chôn kín ở đáy lòng mình và ở đáy lòng những người đồng bào mình, cho nên các vị ấy chưa mở trái tim của mình ra được. Tuy nhiên, trái tim của đại đa số đồng bào ta hiện tại đã mở ra trên chiều hướng tha thứ, chấp nhận; hầu hết đều ước ao có cơ hội chữa lành những thương tích rướm máu còn lại trong tâm hồn. Vì nhận thấy được điều đó nên chúng tôi đã dám đứng ra làm công việc Phật sự này.”

Vậy đến bao giờ số người nhỏ nhoi, sống với dĩ vãng, nuôi dưỡng thù hận, đi ngược thời gian mới có thể mở được trái tim ra, mở để mà thấy kéo dài sự thù hận là một điều phi lý, vì tất cả chúng ta đều là nạn nhân của một cuộc chiến không ai muốn, là nạn nhân của một hoàn cảnh lịch sử về chính trị và xã hội của một nước nhỏ, một hoàn cảnh đã vượt ra khỏi vòng kiểm soát của quốc gia chúng ta, vì các cường quốc đã dùng cường quyền thắng công lý để can thiệp vào chuyện nội bộ của nước ta, và bỏ đi tâm cảnh “mách bu”, trông ngóng ở sự can thiệp của nước ngoài vào chủ quyền Việt Nam.. Những bài tường trình về các chuyến về quê của nhiều tác giả, đặc biệt là của Lý Thái Xuân, Nguyễn Mạnh Quang gần đây, cho thấy đất nước đã khác xưa và mở mang tiến bộ rất nhiều về mọi mặt, kể cả về mặt tình người, trái hẳn với những hình ảnh đen tối mà nhiều báo chí hay diễn đàn truyền thông ở hải ngoại thường mô tả. Những người về thăm quê, mấy trăm ngàn người một năm, tất nhiên phải thấy rõ tình trạng đất nước ngày nay ra sao. Ai có thể lừa dối họ bằng những luận điệu xuyên tạc bịa đặt vô căn cứ.

31 năm qua rồi, ngày nay, hơn 60% người dân Việt Nam sinh sau 1975, tại sao chúng ta cứ còn đầu độc lớp trẻ bằng những hận thù của lớp trước. Ra công xuyên tạc, mạ lỵ những người lãnh đạo đảng Cộng Sản bằng những ngôn từ hạ cấp không làm thay đổi được một sự kiện lịch sử là chính người Cộng Sản đã thành công huy động được dân chúng đánh đuổi thực dân Pháp và rồi thực hiện được thống nhất đất nước, phù hợp với sự mong ước của tuyệt đại đa số người dân Việt. Ai không muốn cho đất nước thống nhất, Trung Nam Bắc là một, xin hãy lên tiếng. Hay là chỉ có thể thống nhất dưới bóng đen của cây thánh giá? Có chăng chỉ là bọn người vẫn cho rằng “Việt Cộng cưỡng chiếm miền Nam” hay sống trong tâm cảnh “Cha đã tiên phong góp phần giải phóng quê hương Cha, và tiếp đến sẽ là quê hương chúng con”. Thật là tội nghiệp cho những loại đầu óc như vậy của họ.





30 tháng 4: Nhìn Lại Cuộc Chiến Việt Nam (Trần Chung Ngọc)
Bang Giao "Bắc Kinh-Vatican" (?) Một Kinh Nghiệm Quý Giá Cho Việt Nam (Trần Chung Ngọc)
Chống Cộng Theo Gương David (Trần Chung Ngọc)
Chủ Nghĩa Khủng Bố và Diệt Chủng (Trần Chung Ngọc)
Cuốn Triumph Forsaken của Mark Moyar
Dư Luận Quần Chúng
Linh tinh Thời sự, Viết mà chơi
Ma Quân Quấy Nhiễu Sư Tăng - Nhưng Thất Bại (Trần Chung Ngọc)
MỘT CHUYẾN VỀ VIỆT NAM - 2
MỘT CHUYẾN VỀ VIỆT NAM - 3
MỘT CHUYẾN VỀ VIỆT NAM -1
Một trong ba thứ (Trần Chung Ngọc)
NED và Lê Quốc Quân
Nguyễn Cao Kỳ và Việt Weekly
NGÀY 30/4/1975 (Trần Chung Ngọc)
Ngáp Lớn Trong Tòa Mỹ Bị Tù - Còn Nguyễn Văn Lý ? (Trần Chung Ngọc)
Nhân chuyện ông Triết đi Mỹ
Nhân Quyền của Mỹ & Dự Luật H.R. 3096 (Trần Chung Ngọc)
Những Người Máy Chống Cộng (Trần Chung Ngọc)
Noam Chomsky & Robert McNamara (Trần Chung Ngọc)
Phiếm Luận Về "Cộng Sản" Hải Ngoại (Trần Chung Ngọc)
Phải Chăng Chiếc Khăn Quàng Là Giải Pháp Cho Tòa Khâm Sứ? (Trần Chung Ngọc)
Thắc Mắc Cần Được Giải Đáp: 3. Về Chiến Tranh Việt Nam (Trần Chung Ngọc)
Thắc Mắc Cần Được Giải Đáp: 3. Về Lá Cờ Vàng (Trần Chung Ngọc)
Thử Phân Tích Vài Đoạn Trong Bài Diễn Văn Nhậm Chức (Trần Chung Ngọc)
Tâm Thư Gửi Những Ai Quan Tâm (Trần Chung Ngọc)
Tại Sao Lại Việt Nam ? (Trần Chung Ngọc)
Tản Mạn về Chống Cộng (Trần Chung Ngọc)
Tản Mạn Xung Quanh Cuộc Chiến Ở Việt Nam (Trần Chung Ngọc)
VAALA - Nghệ Thuật Lên Tiếng [Nhưng Bị Bóp Nghẹt] (Trần Chung Ngọc)
Viết Mà Chơi - Ai Chống Cộng Và Ai Không Chống ? (Trần Chung Ngọc)
Vài Nhận Định Khi Đọc Lời Phát Biểu Của Ông Ngô Quang Kiệt (Trần Chung Ngọc)
Vài Ý Kiến Về Vấn Đề Bang Giao Với Vatican (Trần Chung Ngọc)
Vấn Đề Nhân Quyền Trước Luật Pháp Quốc Gia (Phúc Lâm sưu tầm)
ĐÒI ĐẤT ! ĐẤT NÀO ? ĐẤT CỦA AI ? (Trần Chung Ngọc)
Đôi Hàng Về Chuyện Cờ Vàng Cờ Đỏ (Trần Chung Ngọc)
Đôi Điều Chung Quanh Cuốn Le Livre Noir (Trần Chung Ngọc)
ĐĐ Thích Nhật Từ và Xóm Đạo (Trần Chung Ngọc)
“Religulous” Điểm Phim Cuối Tuần (Trần Chung Ngọc)
“Sư Chính Trị” của MARK MOYAR

lmhuule wrote on Nov 20, '09
AI CHỐNG CỘNG VÀ AI KHÔNG ?

Viết Mà Chơi

Trần Chung Ngọc
01 tháng 10, 2009



LTS: Hôm nay GS Trần Chung Ngọc giới thiệu một acronym mới, "ACPC", (danh sách các tiến sĩ chống cộng đáng quan tâm.) Đây chỉ là một danh sách để đối xứng với danh sách do Tin Paris lập ra, theo thói quen cân bằng phương trình trong toán học,. Một danh sách tiến sĩ "không chống cộng" chỉ có ý nghĩa khi nó theo sau một danh sách "chống cộng" nào đó. Ngoài ra, học vị "tiến sĩ" của một bên ắt phải tương đương với một chức vị nào đó của bên kia, "chiến sĩ" chẳng hạn. Từ "chiến sĩ chống cộng" đã trở nên quá quen thuộc mấy chục năm nay trên các diễn đàn emails hải ngoại. Muốn cân bằng hai danh sách, nhưng lại không rõ chức vị của từng người trong các tổ chức chống cộng, GS Trần Chung Ngọc đã phải đặt giả sử một trường hợp tối đa, học vị "tiến sĩ" để trước tên một số người. Hy vọng nếu không đúng thì cũng không phải mạ lỵ ai. Nếu danh sách chống cộng đáng quan tâm, ACPC, của tác giả có ghi sai tên của quí vị hay còn thiếu sót, xin quí vị thông cảm, và có thể gửi thư đến nhờ Tòa soạn chuyển cho tác giả đính chính. (SH)



Tình cờ tôi vào trang nhà “Tin Paris” thấy 5 danh sách những người về hợp tác với CSVN tuy rằng chế độ ở Việt Nam ngày nay có thể là bất cứ cái gì khác chứ tuyệt đối không phải là Cộng Sản. Việt Nam, cũng như trong hầu hết các nước trên thế giới, có đảng Cộng Sản. Nhưng chính quyền Việt Nam ngày nay không phải là chính quyền Cộng Sản, bởi vì không có những sắc thái của Cộng Sản trong thời chiến tranh lạnh, hay trong hai cuộc chiến ở Việt Nam.. Cộng Sản là một người rơm [a straw man] cũ kỹ mà ngày nay những người ít đầu óc hoặc thuộc thế lực đen cứ tiếp tục dựng lên để tự tay mình quật xuống, hoặc để khích động, kéo dài sự thù hận chưa hề nguôi của họ sau mấy chục năm.

Những người máy chống Cộng hãy vào Internet, đánh chữ “Communism Today” vào chỗ Search thì sẽ thấy là hiện nay Cộng Sản có mặt khắp 5 châu: Âu Châu; Bắc Mỹ, Trung Mỹ, Nam Mỹ; Phi Châu; Á Châu; Úc châu. Nguyên ở Âu Châu, các nước sau đây đều có đảng CS, hội đoàn CS, tổ chức CS v…v…, và tuy các tổ chức này không hoàn toàn nắm quyền nhưng không phải là không có ảnh hưởng trên các mặt văn hóa và xã hội:

Communist Parties today in Europe: Albania, Austria, Belarus, Belgium, Bosnia & Herzegovina, Bulgaria, Czech Republic, Denmark, Finland, France, Germany, Great Britain, Greece, Hungary, Ireland, Italy, Luxembourg, Moldova, Netherland, Norway, Poland, Portugal, Romania, Russia, San Mario, Serbia, Slovakia, Slovenia, Spain, Sweden, Switzerland, Ukraine.

Lạ một điều là ở các nước ngoan đạo như Pháp, Đức, Ý, Tây Ban Nha, Ái Nhĩ Lan lại có nhiều tổ chức Cộng sản nhất. Tôi đưa những tài liệu này lên không phải là để bênh vực Cộng Sản, hay để ca tụng Cộng sản, hay để kêu gọi bất cứ ai hãy theo Cộng sản, mà chỉ muốn những người máy chống Cộng hãy nhìn vào thực tế: Trong thế giới tự do này, chúng ta không có quyền lên án bất cứ ai về khuynh hướng chính trị của họ, cho nên những người máy chống Cộng, trong khi hành nghề chống Cộng, cần học bài học đầu tiên ở trên OCRegister.com là:

Những người chống đối có biết rằng trong thế giới ngày nay mà chụp mũ và lên án một người nào là cộng sản thì thật là ngu xuẩn như thế nào không? Nó đã quá lỗi thời và chứng tỏ rõ ràng là các người thiếu học vấn [hay thiếu giáo dục].

[Do you protestors realize how ignorant it sounds to utilize and accuse someone of being a communist in today's world? It's outdated and clearly demonstrates your lack of education.]

Ở hải ngoại, các bậc bô lão chống Cộng có lẽ đã mệt mỏi, cho nên ngày nay họ truyền lại sự thù hận cho đám con nít. Gần đây họ quảng cáo vinh danh mấy em bé chống Cộng ở Houston, Texas. Trước đây cũng đã có trường hợp một em bé độ 7, 8 tuổi gì đó, cầm bảng chống nhạc Trịnh Công Sơn, nhân danh hơn 2 triệu người Việt tị nạn ở hải ngoại. Chẳng hiểu các em này có hiểu thế nào là Cộng Sản hay không, và có đủ tiếng Việt để nghe và hiểu nhạc Trịnh Công Sơn hay không. Nhồi sọ con nít thường chỉ thấy trong nhà thờ, không ngờ ở trong mấy người chống Cộng cũng có sách lược này. Người Việt chống Cộng cũng còn chống sự thiết lập Tòa Lãnh Sự Việt Nam ở Houston, làm như Tòa Lãnh Sự được thiết lập không phải là do sự thỏa thuận giữa hai quốc gia, Mỹ và Việt Nam, mà phải có sự chấp thuận của nhóm người chống Cộng vô công rồi nghề, phần lớn lãnh lương ông Clinton, ông Bush, rồi đến ông Obama. Chống Cộng kiểu này mà CS chưa sụp đổ để cho những người Công giáo Việt Nam “yêu nước Vatican” lên thay thì kể cũng lạ.

Tò mò, tôi đọc xem trong những danh sách đó có những ai, không thấy mình quen biết ai trong đó, nhưng mà sao họ phần lớn là những thành phần trí thức có bằng cấp cao như kỹ sư, luật sư, tiến sĩ, bác sĩ v..v… Thật là khó hiểu, những bậc trí thức như vậy không có đầu óc hay sao mà lại về nước hợp tác với CSVN khi Việt Nam không còn Cộng Sản. Lẽ dĩ nhiên, họ thuộc lớp những người “không chống Cộng”. Vậy còn những người “chống Cộng” là ai? Trước khi đi thêm vào vấn đề này, chúng ta hãy bàn đến một sự cố gần đây.

Theo luận điệu của những người chống Cộng ở hải ngoại thì những trí thức như trên, muốn góp sức để xây dựng xã hội, quốc gia Việt Nam cho tốt đẹp hơn, đều là những người về hợp tác với CSVN cả